NHẬP A-TÌ-ĐẠT-MA LUẬN

TIỂU TẠNG A-TÌ-ĐẠT-MA BẮC TRUYỀN

_____________

ABHIDHARMĀVATĀRAŚĀSTRA

入阿毘達磨論

***

ARHAT SKANDHILA

(A-la-hán Tắc-kiền-đa tạo) 

PHƯỚC NGUYÊN 

Dịch & chú

________________________________________________

TỰA QUY KỈNH

Kính lễ Nhất thiết trí,

Vầng Phật nhật vô cấu,

Lời sáng phá tâm ám

Nơi nhân thiên, ác thú.

Ai dùng lý Đối pháp

Bạt trừ pháp tướng ngu,

Tôi đảnh lễ như thế,

Ngôn tạng Nhất thiết trí.

Liệt tuệ vọng thuyết ám,

Che lấp Mâu-ni ngôn,

Chiếu liễu do minh đăng,

Quy kỉnh đấng Nhiên đăng.

Những ai thông tuệ có thể thọ trì một cách toàn diện văn nghĩa Thánh giáo của đấng Mâu-ni, nhưng do câu hành với cơ sở của nghiệp nên có khi chưa đắc lại bị thoái chuyển.

Những ai liệt tuệ nghe được danh nghĩa trong Đối pháp như rừng rậm liền sinh sợ hãi, nhưng đồng thời hằng hữu với tâm mong câu thông suốt.

Vì muốn khiến cho những người ấy đối với vực thẳm trong biển pháp tướng của A-tì-đạt-ma có thêm phương tiện để thể nhập một cách dễ dàng và vui thích, do đó tạo ra Luận này.

Thiện Thệ Tông có tám cú nghĩa: (1) Sắc. (2) Thọ. (3) Tưởng. (4) Hành. (5) Thức. (6) Hư không. (7) Trạch diệt. (8) Phi trạch diệt. Đây là tổng quát tất cả nghĩa.

CHƯƠNG I: SẮC PHÁP

Sắc[1] có hai loại[2]: Đại chủng và sắc phái sinh.

I. Bốn nguyên tố

Đại chủng[3] được gọi là giới[4], có bốn giới: đất, nước, lửa, gió[5], vì chúng có thể duy trì yếu tính cá biệt[6], yếu tính phổ quát[7], hoặc các sắc phái sinh[8].

Theo thứ tự của bốn đại chủng này, lấy tính chất cứng chắc, thấp khí, ấm nóng, di động làm tự tính; lấy sự duy trì, cố kết, thành thục và phát triển làm chức năng[9].

Vì đại cũng là chủng, nên gọi là đại chủng[10]. Do đây hư không không thuộc trong đại chủng[11].

Vì có thể sinh ra tự quả[12] đó là nghĩa của chủng.

Nói là “đại” [13]: vì thể của sắc phái sinh phổ quát[14].

Như vậy đại chủng chỉ có bốn thứ[15], nếu tăng thêm cũng không có công dụng, không có hiệu lực[16], như chân của giường nằm[17].

II. Sắc sở tạo

Sắc phái sinh có mười một thứ: (1) Mắt; (2) Tai; (3) Mũi; (4) Lưỡi; (5) Thân; (6) Sắc; (7) Âm thanh; (8) Hương; (9) Vị; (10) Một phần xúc; (11) Vô biểu sắc.

Nói là sở tạo[18]: tức tồn tại trong các đại chủng, nghĩa là y trên các đại chủng mà hiện khởi[19].

1. Nhãn

Trong đây, mắt là sở y của nhãn thức, có chức năng là thấy sắc, tính chất minh tịnh của sắc làm tự thể. Tai, mũi, lưỡi, thân căn cứ theo đây mà thuyết minh.

Sắc có hai loại, đó là sắc màu[20] và hình thể[21]. Như Thế Tôn nói: “Sắc màu xấu, hình thể xấu”.

Sắc màu có mười hai: xanh, vàng, đỏ, trắng[22], mây, khói, bụi, mù[23]; bóng[24], màu nắng[25], màu sáng[26], bóng tối[27].

Hình thể có tám: dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, phẳng[28], không phẳng[29].

Trong đây, mù là hơi nước từ đất bốc lên. Sáng nắng tức ánh sáng mặt trời. Sáng ánh tức ánh trăng, ánh sao, ánh lửa, ánh thuốc, ánh sáng châu ngọc. Bóng có ở nơi nào xuất hiện sắc cản trở ánh sáng. Trái lại là bóng tối. Vuông là hình thể vuông vắn. Tròn là hình thể tròn trịa. Phẳng là hình thể bằng phẳng. Không phẳng là hình thể không bằng phẳng. Những từ còn lại thì dễ hiểu nên chỉ nói gọn[30].

Hai mươi thứ này đều là cảnh giới thông tri cá biệt[31] của nhãn thức và được dẫn khởi bởi ý thức.

2. Thanh

Âm thanh có hai loại: Có chấp thọ[32] và không chấp thọ[33].

Thanh có sai biệt vì có nguồn gốc từ các đại chủng: 1. âm thanh chấp thọ tự thể giả danh[34]: tức âm thanh phát ra từ vật chất có cảm giác. 2. Đồng với đặc điểm này gọi là không chấp thọ[35].

Thanh có nguồn gốc từ đại chủng có chấp thọ giả danh như là tiếng phát ra từ bàn tay, từ tiếng nói. Thanh có nguồn gốc từ đại chủng không có chấp thọ giả danh như là tiếng gió, tiếng rừng cây.

Ở đây, hữu tình danh, phi hữu tình danh phân biệt thành bốn: Thanh của biểu hiện bởi ngôn ngữ[36], gọi là hữu tình danh. Ngoài ra thanh khác gọi là phi hữu tình danh. Thanh của biến hóa bởi ngôn ngữ, gọi là hữu tình danh, ngoài ra các thanh khác gọi là phi hữu tình danh.

Trong đây, mỗi loại hoặc thích ý, hoặc không thích ý, phân thành tám loại thanh[37].

Tám thứ như vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệt của nhĩ thức và được dẫn khởi bởi ý thức.

3. Hương

Hương có ba loại[38]: (1) Mùi thơm. (2) Mùi thối. (3) Mùi quân bình[39].

Có thể nuôi lớn các căn và đại chủng, gọi là mùi thơm.

Gây tổn hại các căn và đại chủng, gọi là mùi thối.

Trái ngược với hai loại trên trên gọi là hương bình đẳng.

Ba loại như vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệt của tỷ thức và được dẫn khởi bởi ý thức.

4. Vị

Vị có sáu loại: phân thành ngọt, chua, mặn, cay, đắng, nhạt[40].

Sáu loại như vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệt của thiệt thức và được dẫn khởi ý thức.

5. Một phần xúc

Một phần xúc có bảy loại: Tính trơn, tính nhám, tính nặng, tính nhẹ, lạnh, đói, khát[41].

Trơn tức là mềm dịu, là nghĩa của ý xúc. Nhám tức thô cứng. Nặng là cái mà do đó vật thể được cân. Trái lại là nhẹ. Lạnh là sự muốn ấm. Đói là sự muốn ăn. Khát là sự muốn uống. Đó là y theo nhân mà lập quả, do đó thuyết minh như vậy. Như nói:

“Phước lạc thay là sự xuất hiện của Chư Phật…”[42]

Trong đại chủng tụ:

Tính trơn vì nước, lửa tăng thịnh.

Tính nhám vì đất, gió tăng tịnh.

Tính nặng vì đất, nước tăng thịnh.

Tính nhẹ vì lửa, gió tăng thịnh.

Tính lạnh vì nước, gió tăng thịnh.

Đói vì gió tăng thịnh.

Khát vì lửa tăng thịnh[43].

6. Vô biểu sắc

  1. Danh nghĩa

Vô biểu sắc[44]: có thể tự biểu thị về tâm, tâm sở chuyển biến sai biệt, đó gọi là biểu. Như hữu biểu[45], nhưng không biểu thị, nên gọi là vô biểu.

Đây là căn cứ nơi tính tương tự để lập ngôn thuyết đối lập. Như đối với Sát-đế-lợi nói không phải là Bà-la-môn v.v…

  1. Yếu tính của vô biểu

Yếu tính của vô biểu: do biểu thị tâm, đại chủng sai biệt vào lúc ngủ, lúc thức, tâm tán loạn, tâm không tán loạn, và ở phần vị vô tâm, những gì là sắc thiện, bất thiện hoạt động tiếp nối, không thể tích tập, có thể thành lập nhân Bí-sô v.v… đó là yếu tính của vô biểu[46].

Nếu không có yếu tính này, thì không thể thành lập Bí-sô v.v… Như Đức Thế Tôn nói: “Do hữu y phước nghiệp sự, phước tăng trưởng thường trực”.

  1. Ba loại luật nghi

Như vậy, vô biểu tổng quát có ba loại: Luật nghi[47], bất luật nghi[48], và không phải hai loại trên[49].

Có ba luật nghi: 1. Biệt giải thoát luật nghi[50]; 2. Tĩnh lự luật nghi[51]; 3. Vô lậu luật nghi[52].

  1. Thể loại của luật nghi

Biệt giải thoát luật nghi có tám loại: (1) Luật nghi Bí-sô. (2) Luật nghi Bí-sô-ni. (3) Luật nghi Cần sách. (4) Luật nghi Chánh học. (5) Luật nghi Cần sách nữ. (6) Luật nghi Cận sự nam. (7) Luật nghi Cận sự nữ. (8) Luật nghi Cận trụ[53]. Tám loại như vậy chỉ thuộc Dục giới.

Tĩnh lự luật nghi: Tam-ma-địa thuộc sắc giới tùy chuyển với sắc. Luật nghi này chỉ thuộc sắc giới.

Vô lậu Luật nghi: Tam-ma-địa vô lậu tùy chuyển sắc. Luật nghi này không hệ thuộc.

  1. Bất luật nghi

Bất luật nghi: Những ai giết dê, giết gà, giết lợn, bắt chim, bắt cá, săn thú, trộm cướp, đao phủ[54], bắt rắn[55], cai ngục, nấu thịt chó, đặt bẫy lưới. Vô biểu sắc bất thiện hoạt động tiếp nối trong khắp thân này.

  1. Phi luật nghi phi bất luật nghi

Phi luật nghi phi bất luật nghi[56]: tạo lập Tì-ha-la, Tốt-đổ-ba, Tăng-già-la-ma v.v… lễ nơi tháp miếu, đốt hương, rải hoa, tán tụng, hướng nguyện v.v… và đánh đập, khởi phát đa dạng vô biểu sắc thiện, bất thiện hoạt động tương tục.

Cũng có vô biểu chỉ trong một sát-na.

Vì y chỉ chủng loại tổng quát nên nói là tương tục.

  1. Thời hạn thọ và xả luật nghi
  2. Luật nghi biệt giải thoát của bảy chúng thệ thọ suốt đời. Luật nghi cận trụ thứ tám chỉ hạn định trong một ngày một đêm.

Bảy loại biệt giải thoát luật nghi trước do bốn nguyên nhân mà xả:

(1) Do từ bỏ học xứ.

(2) Do mạng chung.

(3) Do thiện căn bị cắt đứt.

(4) Do phát sinh hai hình cùng lúc.

Luật nghi cận trụ cũng được xả do nguyên nhân này và thêm nữa do vì đêm đã qua.

  1. Đắc luật nghi tĩnh lự: do đắc tâm thiện thuộc sắc giới.

Xả: do xả tâm thiện thuộc sắc giới, thuộc về tâm đó.

Xả luật nghi vô lậu cũng như vậy. Tùy thuận tâm vô lậu, mà đắc, hoặc xả.

iii. Đắc bất luật nghi do làm và thệ thọ.

Các bất luật nghi được xả do bốn nguyên nhân:

(1) Do đắc luật nghi.

(2) Do mạng chung.

(3) Do phát sinh hai hình.

(4) Do đắc pháp nhĩ tâm thiện thuộc sắc giới.

Vô biểu xử trung, (1) đắc do làm: tâm tịnh ân cần, phiền não mạnh mẽ, nhạy bén, lễ tán tháp miếu và đánh đập v.v… (2) do thệ thọ mà đắc: nghĩa là tự thệ rằng: “Nếu chưa lễ Phật, tạo Mạn-trà-la thì chưa ăn”, các nguyện như thế. (3) do xả nên đắc: xây cất chùa tháp, tăng xá, tọa cụ, vườn rừng, bố thí cho Bí-sô v.v…

Xả vô biểu này, là do đẳng khởi của tâm và cơ sở hành vi đã làm đều tan rã.

Vô biểu như vậy và năm căn đã nói trên như nhãn v.v… chỉ là đối tượng thông tri cá biệt của ý thức. Đến mức độ này, gọi là sơ khởi cú nghĩa sắc.

III. Phân biệt pháp tướng

Nhưng các pháp tướng khái lược có ba loại: (1) Tự cộng tướng. (2) Phần cộng tướng. (3) Biến cộng tướng

  1. Tự cộng tướng: vì là cái biến hoại, biến ngại, đó gọi là sắc.

Như vậy, tức thuyết minh về nghĩa có thể gây não hoại. Như bậc Pháp vương đã nói: “Bí-sô nên biết! Do biến hoại, nên gọi là sắc thủ uẩn”.

Cái gì làm biến hoại? Vì xúc bởi tay nên làm biến hoại, nói chi tiết cho đến.

Như vì có thể đi nhanh, nên gọi là ngựa. Do có thể đi chậm, nên nói là bò, trâu v.v…

Phần cộng tướng: phi thường tính, khổ tính v.v..

Biến cộng tướng: tính vô ngã, tính không.

Do phương diện này, nên biết đối với tất cả pháp có ba hình thái.

Phước Nguyên dịch & chú

______________________________________

[1] Định nghĩa theo động từ căn √rup/ lup: gây tổn hại; hoặc định nghĩa theo động từ căn √rūp: tạo hình, định dạng. Cf. PTS, S. iii, tr. 86: kiñca bhikkhave rūpaṃ vadetha. ruppatīti kho bhikkhave tasmā rūpan ti vuccati kena ruppati. Sītena.., “Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Nó băng hoại, này các Tỷ-kheo, vì vậy nó được gọi là sắc. Bị băng hoại bởi cái gì? Bởi đá, v.v…” Theo ngữ nguyên này, rūpa, do động từ rump [lump]: vỡ, tan vỡ.

[2] Tập dị môn 1, tr. 369c7: 色云何?答:四大種及所造色,是謂色.

[3] Đại chủng 大種, Skt. mahābhūta, Kośa i.: “Bốn yếu tố này do duy trì sắc phái sinh (upādāyarūpa) và yếu tính cá biệt, nên gọi là giới (dhātu). Bốn giới này được gọi là bốn đại chủng”.

[4] Thuận chánh lý 2, tr. 335c13: “Vì duyên cớ gì các đại chủng này được gọi là giới? (dhātu)? Vì là môi trường xuất sinh hết thảy sắc pháp. Và các đại chủng cũng được xuất sinh từ các đại chủng. Trong thế gian người ta gọi môi trường xuất sinh là giới. Như mỏ vàng được gọi là giới của vàng”.

[5] Cf. Thuận chánh lý 2, tr. 335c18: “Vì sao gọi là chủng?… Khi các chủng loại sai biệt của sắc sinh khởi, những sai biệt về phẩm loại cũng sinh khởi; do đó nói là chủng… Hoặc pháp xuất hiện thì được gọi là hữu. Sinh trưởng hữu tính, do đó nói là chủng”. Theo định nghĩa này, từ bhūta (chủng) do gốc động từ b: tồn tại, trở thành.

[6] 自相    sva-lakṣaṇa          rang gi mtsan nyid

[7] 共相    sāmānya-lakṣaṇa spyi’i mtsan nyid

[8] 所造色               upādāya-rūpa       rgyur byas pa’i gzugs

[9] Trì nhiếp thục trưởng 持攝熟長, dhṛtisaṃgrahapaktivyūhana

[10] Tì-bà-sa 127, tr. 66311: 何故名大種。答大而是種。故名大種.

[11] Tì-bà-sa 127, tr. 662b21.

[12] 自果  sva-phala             rang gi ‘bras bu

[13] Thuận chánh lý 2, tr. 335c-336a: “Vì dụng đại, nên nói là đại… Hoặc, bốn nguyên tố này là sở y của tất cả sắc, nên nói là đại”. Cf. Kośa i: Nói là «đại» vì là sở y cho hết thảy sắc khác; vì sự thô lớn của nó. Hoặc vì khối lớn tổ hợp trong các khối tụ tập chuyển biến tăng thịnh của đất, nước, lửa, gió”.

[14] 遍 biến, audārikatvāt: thể khoan quảng (rộng lớn).

[15] Ngũ sự 1, tr. 990a6: “Vì sao đại chủng chỉ có bốn? Hiếp Tôn giả nói: Câu hỏi này là phi lý, vì nếu có giảm hoặc tăng sẽ đồng thời tạo nghi điểm. Ở đây do không trái với pháp trướng, nên nói bốn là không lỗi.

Có thuyết nói: Vì nhằm ngăn chận ngoại đạo nói đại chủng có năm, nên chỉ nói bốn thứ, vì ngoại đạo kia chấp hư không cũng là đại chủng”.

[16] 無堪能 Aśakta, las su mi rung ba

[17] Thuận chánh lý 2, tr. 336b1: “Đại chủng chỉ có bốn, không tăng không giảm. Các vị Tì-bà-sa nói: giảm tức vô hiệu, tăng tức vô dụng, như sàng tòa túc. Như chân của giường nằm. Có thuyết nói: Đại chủng pháp nhĩ là bốn”.

[18]  Từ upādāya (sở tạo): được dồn lại, phái sinh. Tì-bà-sa 127, tr. 663a22: “Tạo (upādāya) có nghĩa là gì?… Tạo có nghĩa là nhân (hetu)”.

《 a bì đạt ma thuận chánh lí luận》 quyển5:「 thử phục

vân hà? vị vô biểu nghiệp y đại chủng sanh, cố danh sở tạo

」(CBETA,

T29, no.

1562, p.

356b18-19)

[19] Theo đây, giải thích ngữ nguyên bhautika, tính từ phái sanh của bhūta: bhūteṣu bhavatvāt, tồn tại trong các đại chủng, hay y trên các đại chủng mà tồn tại.

[20] 顯; hiển sắc, varṇa

[21] 形; hình sắc, saṃsthāna

[22] 4 cái đầu thuộc về sắc màu (hiển sắc, varṇa); những cái còn lại thuộc về hình thể (hình sắc, saṃsthāna).

[23] Kośa i: mahikā = nīhāraḥ, mù tức sương mù, Ht. diễn thêm: 地水氣騰說之為霧, “Hơi nước từ đất bốc lên gọi là mù 霧”.

[24] Kośa i: chāyā = yatra rūpāṇāṃ darśanam, “bóng có ở nơi nào xuất hiện sắc”.

[25] Skt. ātapa, hơi nóng, ánh nắng. Kośa i: ātapaḥ = sūryaprabhā, sáng nắng tức ánh sáng mặt trời.

[26] Kośa i: ālokaḥ = candratārakāgnyoṣadhimaṇīnāṃ prabhā, “Sáng ánh tức ánh trăng, ánh sao, ánh lửa, ánh sáng châu ngọc”.

[27] Kośa i: viparyayād andhakāram, “trái lại với bóng (chāya) là bóng tối”.

[28] Kośa i: tatra sātam = samasthānam, phẳng là hình thể bằng phẳng.

[29] Kośa i: visātam = viṣamasthānam, không phẳng là hình thể không bằng phẳng.

[30] Pháp uẩn, bản Việt tập I, tr. 544, Cht. 6-15: “Sắc được phái sinh bởi bốn đại chủng, gồm có (a) xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, mù; (b) dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, phẳng, không phẳng; (c) bóng , màu nắng, màu sáng, bóng tối; (d) có người kể thêm màu da trời, là một hiển sắc; (e) màu pha tạp, hồng, tím, biếc, xanh lục, đen, nâu sám”.

[31] Skt. viṣaya-vijñapti, 了別境 yul rnam par rig pa

[32] Skt. upātta; Ht. hữu chấp thọ 有執受. Abhidh-k-vy, tr. 34: pratyutpannānīndriyāvinnirbhāgāni bhūtāny upāttāni, “các nguyên tố không tách rời các quan năng hiện tại, là các nguyên tố có cảm thụ”. Tức chỉ loại vật chất nhạy cảm. Chấp thọ ở đây đồng nghĩa với chấp thủ.

[33] 無執受             anupātta ma zin pa

[34] Abhidh-k-vy 26: pratyutpannānīndriyāvinirbhāgāni bhūtāny upāttāni, “các nguyên tố không tách rời các quan năng hiện tại, là các nguyên tô có cảm thụ”, Thuận chánh lý 4, tr. 352b7: “cái được tâm tâm sở nhận làm tự thể, được tâm tâm sở nắm giữ và lấy đó làm sở y, cái đó được nói là hữu chấp thọ.” Quang ký: có chấp thọ, đồng nghĩa có giác thọ. Tức chỉ loại vật chất nhạy cảm, có cảm giác. Năm căn hiện tại thuộc hữu chấp thọ, quá khứ và vị lai thuộc vô chấp thọ. Các loại săc khác hiện tại còn liên hệ đến căn thì thuộc hữu chấp thọ, nêu tách rời căn thì thuộc vô chấp thọ. Như tóc, móng, phần gốc liên hệ có cảm giác nên thuộc hữu chấp thọ; phần ngoài không có cảm giác thuộc vô chấp thọ.

[35] Tức âm thanh phát ra từ vật chất không có cảm giác.

[36]

[37] Kośa i, tụng 10b: thanh có 8. Trong đó tổng thể có 2: (i) từ đại chủng có chấp thọ (upātta), âm thanh phát ra từ vật chất có cảm giác; (ii) từ đại chủng không có chấp thọ (anupātta), âm thanh từ vật chất không có cảm giác. (i) và (ii) mỗi loại lại có hai: (a) hữu tình danh (sattvākhya), từ cơ thể sinh vật; (b) phi hữu tình danh (asattvākhya), vật chất vô tri. Từ (a) và (b) mỗi thứ có hai: khả ái và phi khả ái.

[38] Kośa i: Hương có bốn, vì do sự sai biệt của mùi thơm và mùi thối, bình hoặc gắt (sugandhadurgandhayoḥ samaviṣamagandhatvāt). Nhưng do trong Bản luận (Phẩm loại 1, tr. 692c22) chỉ kể có ba loại: thơm, thối, bình (trividhas tu śāstre-sugandhaḥ, durgandhaḥ, samagandha iti).

[39] Câu-xá kể thêm: mùi gắt, xem Cht. 37 dẫn thượng.

[40] Kośa i: vị có sáu loại, đó là, ngọt, chua, mặn, cay, đắng, nhạt (rasaḥ, ṣoḍhā, madhurāmlalavaṇakaṭukatiktakaṣāyabhedāt).

[41] Kośa i.k.10d: “Xúc có mười một tự thể (spṛśyam ekādaśātmakam). (Giải thích) có mười một tự thể được xúc chạm: bốn đại chủng, trơn, nhám, nặng, nhẹ, lạnh, đói, khát (spraṣṭavyam ekādaśadravyasvabhāvam-catvāri mahābhūtāni, ślakṣṇatvam, karkaśatvam, gurutvam, laghutvam, śītam, jighatsā, pipāsā cêti)”. 觸 Xúc, phân biệt hai nghĩa: spṛśya, cái xúc chạm (năng xúc) tức quan năng xúc giác; và spraṣṭavya, cái bị xúc chạm (sở xúc), đối tượng xúc giác.

[42]

[43] Giải thích chi tiết 7 hạng mục này, xem Ngũ sự 2, tr. 992b25.

[44] Vô biểu nghiệp mà tự thể là vô biểu sắc, là quan điểm đặc sắc của hữu bộ. Theo Hữu bộ duy chỉ thân và ngữ có vô biểu, ý không có vô biểu. Phẩm loại (T26n1542, tr. 693a03): “Vô biểu sắc là gì? Đó là sắc được bao hàm trong pháp xứ. Sắc này cùng với năm sắc căn trong mọi thời được nhận tức bởi một thức; đó là ý thức”.

[45] Kośa i: “Vô biểu tuy có tự thể là hoạt động của sắc như hữu biểu nhưng nó không biểu thị cho người khác nhận thức”.

[46] Abhidh-k-vy 29: yad dhi vastu rūpasvabhāvam eva na kṛiyāsvabhāvaṃ. tan na paraṃ gamayati. tadyathā cakṣurādayaḥ. yad api kriyāsvabhāvam eva na rūpasvabhāvaṃ. tad api paraṃ na gamayati. tadyathā cetanā. yat tūbhayasvabhāvaṃ. tat paraṃ gamayati. tadyathā vijñaptiḥ. vijñaptir hi svasamutthāpakaṃ cittaṃ kuśalākuśalāvyākṛtaṃ saumyaṃ krūram anubhayam iti vā paraṃ vijñāpayati. “Vật thể nào mà có tự tính là sắc nhưng không có tự tính là hành động nó không tỏ cho người khác biêt, như mắt các thư. Cái mà có tự tính là hành động nhưng không có tự tính là sắc, nó cũng không tỏ cho người khác biết, như tâm tư. Cái mà có cả hai tự tính, cai đó tỏ cho người khác biết, như biểu. Do vậy, biểu là cái thông tri cho người khác biết tâm đẳng khởi của chính ta là thiện, bât thiện hay vô ký, là hiền lành hay hung dữ, hay cả hai”.

[47] Luật nghi 律儀, Skt. saṃvara, do động từ saṃ-vṛ (saṃvṛṇoti): trùm kín, bao phủ, từ đó hàm nghĩa phòng hộ, chế ngự. Kośa iv: “Nói là luật nghi, hay phòng hộ, là sự đình chỉ, sự chế ngự dòng thác ác giới” ()

[48] Kośa iii.: “Thế nào gọi là bất luật nghi? Nghĩa là āurabhrikāḥ (giết dê), kaukkuṭikāḥ (giết gà), saukarikāḥ (giết heo), śākunikāḥ (bắt chim), mātsikāḥ (bắt cá), mṛgalubdhakāḥ (săn thú), caurāḥ (trộm cướp), vadhyaghātakāḥ (đao phủ/ khôi khoái), nāgabandhāḥ (bẫy voi), bandhanapālakāḥ (cai ngục), śvapākāḥ (nấu thịt chó), vāgurikāśca (đặt bẫy lưới). Hán dịch, Hiển tông 20, tr. 0872c02; Thuận chánh lý 39, tr. 0563a06.

[49] Kośa iv: saṃvaraśca, asaṃvaraśca, tābhyāṃ cetaro naivasaṃvaro nāsaṃvaraḥ, “luật nghi, bất luật nghi, và không phải hai loại trên, tức phi luật nghi phi bất luật nghi”.

[50] Kośa iv: prātimokṣasaṃvara ihatyānāṃ kāmāvacaraṃ śīlam, “Biệt giải thoát luật nghi, đó là giới thuộc dục giới trong đời này”.

[51] Kośa iv: dhyānāsaṃvaro rūpāvacaraṃ śīlam, “Tĩnh lự luật nghi, giới thuộc sắc giới.

[52] Kośa iv: anāsravasaṃvaro’nāsravaṃ śīlam, “Vô lậu luật nghi, giới vô lậu”.

[53] bhikṣusaṃvaraḥ, bhikṣuṇīsaṃvaraḥ, śikṣamāṇāsaṃvaraḥ, śrāmaṇerasaṃvaraḥ, śrāmaṇerīsaṃvaraḥ, upāsakasaṃvaraḥ, upāsikāsaṃvaraḥ, upavāsasaṃvaraś.

[54] Vadhyaghātaka: thi hành án phạt xử tử. Ht. 魁膾 khôi khoái.

[55] Phược long 縛龍, trói rồng, nên hiểu là bắt rắn. DhskD. nāgamaṇḍalikāḥ (Tib. glang po che ‘dzin pa): người bắt rắn, So sánh, Kośa iii. nāgabandhāḥ, Hán dịch: khiên tượng giả 牽象者, tróc tượng giả 捉象者, phược tượng 縛象. Abhidh-k-vy: hasTibandha, bẫy voi, cũng có nghĩa là xiềng xích voi. Quang ký 15, tr. 0233c12: dùng chú thuật trói rồng hoặc rắn khiến làm trò để kiếm sống. Tì-bà-sa 117, tr. 0607b02-03.

[56] Tì-bà-sa 117, tr. 608c6