Chương 2. TẬP BA VẠN SÁU NGÀN TẤT CẢ PHÁP

(ṣaṭtriṃśatsāhasrasarvadharmasamuccayo nāma dvitīyaḥ parivartaḥ)

 

PHẠN BẢN TOÀN DỊCH
~Phước Nguyên dịch & chú~

Khởi dịch: Phật đản – An cư, năm Tân mùi (2015)

Dịch xong trọn bộ, trước Trung thu – Mậu tuất (2018) 13 ngày.

[Bản dịch Việt ngữ đầu tiên từ nguyên điển Phạn văn Lăng-già]

Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ, vị đã từng vân du tất cả Phật độ, cùng với các đại Bồ-tát, nương thần lực Phât, từ chỗ ngồi đứng lên, để trần vai phải, đầu gối phải sát đất, chắp tay xoay người hướng đến Phật, cung kính cúi đầu, rồi dùng kệ tụng tán thán Phật rằng:
1. Phật bằng trí bi nhìn thế gian,
Nó như là hoa đốm hư không,
Không thể nói là sinh hay diệt,
Nên không thể nói hữu hay vô .
2. Phật bằng trí bi nhìn thế pháp,
Thực tế nó như vật huyễn ảo .
Do nó xa lìa nơi thức trí ,
Nên không thể nói hữu hay vô.
3. Phật bằng trí bi nhìn thế gian
Nó giống như là một mộng cảnh,
Không thể nói nó đoạn hay thường,
Nên không thể nói hữu hay vô.
4. Pháp thân tự tính như mộng huyễn,
Ở đó có gì để khen ngợi?
Tán lễ tức không nắm lấy hữu,
Cũng không nắm lấy vô tự tính.
5. Pháp hiện tồn nhưng không thể thấy,
Do nó siêu việt thức và cảnh,
Mâu-ni siêu việt pháp trần cảnh,
Nơi đó có gì đáng khen chê?
6. Phật bằng trí bi lìa hình sắc,
Lại chứng nhân-pháp đều vô ngã ,
Do đây Phật thường hằng thanh tịnh,
Lìa phiền não chướng, sở tri chướng.
7. Phật không diệt ở trong Niết-bàn,
Cũng không trụ ở trong Niết-bàn,
Năng giác, sở giác thảy đều ly,
Cũng lại ly nơi hữu, phi hữu.
8. Nếu ai thấy Mâu-ni như vậy,
Tịch tĩnh, viễn ly nơi sinh tử.
Người đó đời này và đời sau,
Thanh tịnh phược thủ và vô cấu.

II

Khi ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ bằng kệ tụng tán thán Phật như thế rồi, liền hướng đến Phật tự giới thiệu tên họ:
9. Thế Tôn! Con tên là Đại Huệ ,
Con thường khéo tán tụng Đại thừa,
Muốn hỏi trăm lẻ tám cú nghĩa,
Biện tài điều đó Phật vô thượng.
10. Rồi bậc tối thắng thế gian giải,
Sau khi nghe vị ấy thưa hỏi,
Liền nhìn khắp trong các hội chúng,
Hướng đến Thiện thệ tử kia nói:
11. Các ông là Thắng lợi vương tử,
Nay ta cho ông tùy ý hỏi,
Ta sẽ khai thị rõ cho ông,
Giải đáp ở trong nội tự chứng.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ được Thế Tôn cho phép hỏi, liền đảnh lễ sát đôi chân Phật, rồi hỏi rằng:
12. Làm sao tịnh hư vọng kế độ?
Nó lại từ cái gì sinh khởi?
Làm sao thường tri các mê loạn?
Nó lại thật từ xứ gì đến?
13. Gì là sát độ và hóa hiện?
Gì là hữu tướng, hữu ngoại đạo?
Làm sao tuần tự ly thức cảnh ?
Do đâu mà có các Phật tử?
14. Ở đâu đắc được giải thoát đạo?
Ai bị thọ phược? ai năng giải?
Cảnh giới tâm thiền định thế nào?
Từ điều gì mà có tam thừa?
15. Cái gì mà có nhân duyên sinh?
Nhân và quả ấy thế nào?
Do đâu mà có nhị nguyên ấy?
Nó rốt cuộc từ cái gì sinh?
16. Do đâu mà có vô sắc định?
Do đâu mà có diệt tận định?
Do đâu mà có diệt tưởng định ?
Làm sao do đây mà đắc giác?
17. Do đâu sinh khởi các sở tác?
Hành nơi chỗ nào trì thân ấy?
Thế nào là duyên? Kiến là gì ?
Làm sao mà đắc nhập đạo địa?
18. Ai có thể phá tam hữu này?
Thế nào là thân? Trụ là gì?
Trì tục ấy từ cái gì khởi?
Các Phật tử từ điều gì sinh?
19. Ai có thể hoạch đắc thần thông,
Đắc tự tại, đắc tam-ma-địa?
Thế nào là đắc tâm tam-muội?
Xin Thắng lợi tượng vương dạy con.
20. Do đâu mà có tàng thức kia?
Do đâu mà có ý nhiễm ô?
Khả kiến thế gian sinh thế nào?
Khả kiến thế nào mà đắc diệt ?
21. Gì là chủng tính, phi chủng tính?
Nơi nghĩa do đâu nói Duy tâm ?
Nơi nghĩa do đâu kiến lập tướng?
Giáo pháp thuyết vô ngã thế nào?
22. Do đâu mà nói không hữu tình?
Người nào tùy thuận thế gian pháp?
Làm sao có thể trừ thường kiến?
Làm sao có thể trừ đoạn kiến?
23. Do đâu Phật và ngoại đạo
Hiển hiện ở trong vô phân biệt?
Dạy con phái chánh lý là gì?
Tương lai nó phát triển thế nào?
24. Do đâu mà có nghĩa không tính?
Do đâu mà biết sát-na diệt?
Do đâu mà có thai tạng ấy?
Thế gian thường bất động thế nào ?
25. Do đâu thế gian như huyễn tưởng,
Như mộng, như Càn-thác-bà thành,
Như quáng nắng, như trăng trong nước?
Cúi mong dạy con, xin dạy con!
26. Do đâu mà có Bảy giác chi ?
Do đâu mà có Bồ-đề phần ?
Do đâu quốc độ có động loạn?
Do đâu sinh khởi thành hữu kiến ?
27. Do đâu lìa sinh diệt thế gian?
Sao nó như hoa đốm hư không ?
Thế Tôn do đâu mà đắc tri?
Do đâu biết ngài ly danh tướng ?
28. Do đâu không hệ thuộc phân biệt?
Do đâu nó giống như hư không?
Bao nhiêu chân như ? Bao nhiêu tâm?
Bao nhiêu loại Ba-la-mật-đa ?
29. Do đâu mà có thuận thứ địa ?
Lại làm sao viễn ly thức cảnh?
Do đâu có hai loại vô ngã?
Do đâu mà đắc sở tri tịnh ?
30. Phi thức trí có bao nhiêu loại?
Bao nhiêu loại tu học giáo hối ?
Bao nhiêu loại hữu tình được sinh ?
Sao có loại vàng báu, ma-ni?
31. Do ai mà có các ngữ ngôn ?
Do đâu hữu tình thành sai biệt?
Do đâu mà có chủng chủng minh?
Do ai tác hiện thị nơi nó?
32. Bao nhiêu kệ tụng ? Bao nhiêu vần?
Trường hàng cũng lại có bao nhiêu?
Ở trong thuyết có bao nhiêu lý?
Lại có bao nhiêu luận thích nghĩa?
33. Ẩm thực đúng có bao nhiêu loại?
Do đâu ái dục đắc sinh khởi?
Do đâu mà có chuyển luân vương?
Sao có vương gia và bang chủ ?
34. Vua bảo hộ nước mình thế nào?
Chư thiên lại có bao nhiêu tụ?
Do đâu mà có các đất đai?
Do đâu mà có trời, trăng, sao?
35. Thực tế bao nhiêu loại trì minh?
Có bao nhiêu hạng Du-già giả?
Thực tế bao nhiêu hạng đệ tử?
Có bao nhiêu hạng A-xà-lê ?
36. Thực tế bao nhiêu hàng Như Lai?
Có bao nhiêu loại bản sinh Phật ?
Thật tế bao nhiêu hạng ma-la ?
Chúng dị đoan đông như thế nào?
37. Thật tế bao nhiêu loại tự tính?
Tâm có bao nhiêu loại sai biệt?
Do đâu duy thi thiết giả danh ?
Cúi mong bậc Thiện thuyết dạy con!
38. Do đâu giữa trời có gió mây?
Do đâu ức niệm và thức trí?
Sao có rừng cây và tử đằng?
Cúi xin chúa Tam giới dạy con!
39. Làm sao bắt trói ngựa, voi, nai?
Do đâu mà có kẻ phàm ngu?
Phật là bậc điều ngự được tâm ,
Cúi mong dạy con, xin dạy con!
40. Do đâu mà nói có sáu thời?
Do đâu mà có Nhất-xiển-đề ?
Dạy con: chúng sinh khởi thế nào?
Tức nam, nữ và người lưỡng tính.
41. Do đâu quán tu bị thoái nghịch?
Do đâu hành giác đắc tiến cảnh?
Bao nhiêu loại du-già quán tu?
Do đâu hành giả thường an trú.
42. Hữu tình sinh ở trong các thú
Do đâu mà có dị hình tướng?
Do đâu tài phú thường tích tụ?
Đấng như hư không xin dạy con!
43. Do đâu có chủng tộc Thích-ca?
Do đâu sinh làm Cam giá vương
Do đâu mà có tiên khổ hạnh?
Thực tế vị ấy dạy những gì?
44. Do đâu Phật hiển hiện phổ khắp?
Tại sao Bồ-tát chúng vây quanh?
Họ đã có chủng chủng hình thái,
Lại có chủng chủng loại dị danh.
45. Do đâu không ăn các loại thịt?
Tại sao chế giới cấm ăn thịt?
Loại ăn thịt sinh xuất thế nào?
Do đâu mà có người ăn thịt
46. Do đâu hình đất đai, nhật nguyệt,
Hoặc tợ liên hoa, hoặc tu-di,
Hoặc như 卐 hiệu, như sư tử?
Cúi mong Thế tôn chỉ dạy con.
47. Do đâu mà có các đất đai
Hình giống lưới đế Thích giăng phủ?
Hoặc như lưới đế Thích trắc lập,
Nó do các trân bảo sở hàm?
48. Do đâu như trống, như Tì-bà?
Hoặc như các loại hoa và quả?
Hoặc như nhật nguyệt mà vô cấu?
Cúi mong Thế tôn thường dạy con!
49. Do đâu mà có Ứng hóa Phật?
Do đâu mà có Dị thục Phật?
Như Như trí Phật lại do đâu?
Cúi mong Thế Tôn thường dạy con!
50. Do đâu người trong Dục giới ấy ,
Không thể thành tựu Đẳng chánh giác?
Dạy con làm sao lìa ái dục ,
Giải thoát trong Sắc cứu cánh thiên ?
51. Sau ngài Diệt độ ai trì giáo?
Đạo sư lại trụ thế bao lâu?
Chánh pháp truyền lâu đến bao giờ?
Cúi mong Thế Tôn thường dạy con!
52. Dạy con rốt cuộc mấy loại lý ?
Lại có mấy loại ngoại đạo kiến?
Do đâu mà có các giới luật?
Do đâu mà thành vị Tỷ-kheo?
53. Do đâu mà có chuyển y cảnh?
Do đâu mà có vô tướng cảnh ?
Nơi thanh văn và duyên giác kia,
Và ở nơi vị Bồ-tát ấy ?
54. Thế gian thần thông lực từ ai ?
Do đâu mà có xuất thế gian?
Do đâu đắc trụ tâm thất địa?
Duy nguyện Thế tôn thường dạy con!
55. Thực tế Tăng chúng bao nhiêu dạng?
Do đâu mà lại khởi dị tránh ?
Thuyết y phương cho chúng hữu tình,
Đây có mấy loại? Xin dạy con.
56. Thế Tôn do đâu thuyết như vầy:
“Ca-diếp, Câu-lưu-tôn là ta !
Câu-na-hàm mâu-ni là ta ”?
Đại Mâu-ni dạy con tại sao!
57. Do đâu thuyết hữu tình vô ngã?
Do đâu mà thuyết đoạn và thường?
Do đâu không nơi tất cả xứ,
Mà chỉ tuyên thuyết là Duy tâm ?
58. Do đâu mà có nam, nữ lâm ?
Ha tử, Dư cam tử do đâu?
Do đâu mà có Kê-sa-la,
Núi Luân vi và Núi kim cương , ?
59. Do đâu ở trong các núi đó,
Được nghiêm sức chủng chủng tạp bảo?
Nhiều Tiên nhân, Càn-thác-bà trụ ?
Cúi mong dạy con! Xin dạy con!
60. Đại Hùng Phật-đà Chánh biến tri,
Nghe hỏi Đại thừa vi diệu pháp,
Lại hỏi chư Phật tối thắng tâm,
Ngài dụng kệ tụng mà đáp rằng?
61. Tốt lắm! Tốt lắm! con đại trí ,
Tốt lắm! Tốt lắm! Này Đại Huệ!
Ông hãy lắng nghe, lắng nghe rõ,
Ta sẽ lần lượt đáp thắc mắc .
62. Nên biết sinh cùng với bất sinh,
Niết-bàn, Không tính và lưu chuyển,
Chúng thảy đều là vô tự tính,
Chư Phật, Ba-la-mật-đa tử .
63. Thanh văn, Bồ-tát và ngoại đạo,
Và các chúng đắc vô sắc hành ,
Tu di, biển lớn và các núi,
Hải đảo, quốc độ và đất đai.
64. Nhật nguyệt cùng với các ngôi sao,
Ngoại đạo, thiên và a-tu-la,
Giải thoát, tự tại và thần thông,
Thiền định cùng với Tam-ma-địa .
65. Diệt ấy cùng với như ý túc,
Bồ-đề phần cùng với giác chi,
Thiền định và các bất khả lượng,
Uẩn tụ cùng với lai và khứ.
66. Diệt thọ tưởng và xuất ly định,
Cùng với các danh ngôn thế gian,
Cùng với Tâm-ý-thức các thứ,
Vô ngã cùng với năm pháp kia .
67. Tự tính, phân biệt, sở phân biệt,
Hai kiến năng-sở thảy là gì?
Chủng chủng thừa và các chủng tàng,
kim bảo, ma-ni sở xuất sinh.
68. Nhất-xiển-đề cùng với đại chủng ,
Chúng lưu chuyển cùng với nhất Phật,
Trí tri giáo cùng với thành tựu,
Hữu tình hữu cùng với vô hữu.
69. Làm sao bắt trói ngựa, voi, nai?
Ngài hãy dạy con làm thế nào!
Do đâu nhân và dụ tương ưng,
Thành nhất giáo pháp thật do đâu?
70. Do đâu mà có nhân và quả?
Mê hoặc như rừng, và thành lý ?
Không ngoại thế gian , chỉ duy tâm ?
Do đâu thăng tiến không thứ đệ ?
71. Trăm lần vô tướng, chuyển y cảnh ?
Ngài hãy dạy con, xin dạy con!
Y phương minh và công xảo minh,
Chú thuật kỹ nghệ, các ngoại minh?
72. Dạy con làm sao thường trắc lượng,
Tu di, các núi và đất đai?
Làm sao thường đo hải dương kia,
Làm sao thường đo vầng nhật nguyệt?
73. Thân hữu tình bao nhiêu vi trần?
Mỗi loại thô-trung-tế bao nhiêu?
Trong các quốc độ bao vi trần?
Trong các sa-mạc bao nhiêu cát ?
74. Một khuỷu và một cung thế nào?
Câu-lô-xá , do tuần thế nào?
Lông thỏ, bụi cửa sổ, trứng rận,
Lông cừu, lúa mạnh có bao nhiêu?
75. Một thăng, nửa thăng nhiêu hạt lúa?
Một hộc, mười hộc, mười vạn hộc,
Một ức hộc, đến: tần-bà-la ,
Cũng chứa nhiêu hạt lúa như thế?
76. Một hạt cải chứa nhiêu cực vi?
Nhiêu hạt cải thành một hạt cỏ ?
Một đậu, một thù và một tiền,
Trong đó lại có nhiêu hạt cải?
77. Trong đây một cặp có nhiêu tiền?
Lại bao nhiêu cặp thành một cân?
Bao nhiêu cân thành một tu-di?
Đây là tích tụ của cực đại.
78. Phật tử tại sao không hỏi ta,
Do đâu lại hỏi ngoài điều này?
Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát,
Và Phật thân bao nhiêu cực vi?
79. Nơi đỉnh ngọn lửa nhiêu cực vi?
Lại nhiêu cực vi ở trong gió?
Mỗi mỗi các căn nhiêu cực vi?
Chân lông, lông mày nhiêu cực vi?
80. Do đâu mà được tài sản lớn?
Do đâu mà có Chuyển luân vương?
Họ lại hộ đất nước thế nào?
Họ nơi giải thoát như thế nào?
81. Trường hàng và vận cú ra sao?
Do đâu tình dục rất phổ biến?
Do đâu đa dạng uống và ăn?
Do đâu mà có rừng nam nữ?
82. Nơi nào lại có núi Kim cương ?
Xin dạy con nơi nào, nơi nào?
Nó như là huyễn, lại như mỗng,
Hay như nai khát gặp ráng nắng .
83. Do đâu mà có mây sinh khởi?
Do đâu mà thành các tiết mùa?
Người nam, nữ, lưỡng tính do đâu?
84. Sao gọi Bồ-tát và trang nghiêm?
Phật tử hỏi ta, được hỏi ta!
Do đâu Tiên nhân, Càn-thác-bà
Nghiêm sức các núi thắng diệu đó?
85. Do đâu mà có giải thoát đạo ?
Ai bị thọ phược? Ai năng giải?
Tịch diệt quán tu cảnh thế nào?
Hóa thân và ngoại đạo ra sao?
86. Hữu, phi hữu vô quả thế nào?
Khả kiến thế gian khởi do đâu?
Gì là các tịnh? Các kế độ?
Do đâu mà khởi các kế độ?
87. Do đâu sinh khởi hữu sở tác?
Do đâu mà đắc khiến chuyển li?
Dạy con làm sao đoạn các tưởng?
Do đâu mà thành Tam-ma-địa?
88. Người phá tam hữu ấy là ai?
Thân này và xứ này thế nào?
Do đâu giáo pháp thuyết vô ngã?
Sao thuyết giáo tùy thuận thế tục?
89. Ông sẽ hỏi ta Phật tướng chăng?
Ông sẽ hỏi ta vô ngã chăng?
Hỏi tạng, hỏi ngoại đạo Chánh lý?
Hỡi con trai của Thắng lợi vương!
90. Thường kiến và đoạn kiến thế nào?
Do đâu tâm đạt tam-ma-địa?
Ngôn thuyết và trí tuệ thế nào?
Giới luật và chủng tính ra sao?
91. Do đâu lý lượng và luận thích,
Thầy trò, hữu tình, các chủng tính,
ẩm thực, hư không, trí và ma,
Thảy đều nói nó là thi thiết?
92. Cớ gì ông hỏi rừng, dây leo?
Hỡi con trai của Thắng lợi vương!
Vì sao hỏi sai biệt đất đai?
Do đâu hỏi tiên khổ hành kia?
93. Ngài chủng tính gì? Ai là thầy?
Xin dạy, con là Thắng lợi vương tử!
Do đâu thấp kém? Lại do đâu
Ở trong dục giới khó chứng giác?
94. Ông hỏi nơi Sắc cứu cánh thiên,
Do đâu đắc năng nhập tất-địa?
Thế gian thần thông lại thế nào?
Tự tính của Tỷ-kheo là gì?
95. Ông có hỏi ta Hóa sinh Phật?
Ông cũng hỏi ta Báo sinh Phật?
Như Như Trí Phật lại thế nào?
Do đâu mà có Bồ tát ấy?
96. Thắng lợi vương tử ông hỏi ta,
Do đâu có địa không quang minh?
Như đàn, như trống, lại như hoa,
Do đâu mà có tâm bảy địa?
97. Ông hỏi điều này, hỏi điều kia,
Đó đều y tướng mà thưa hỏi,
Lại còn viễn ly các tà kiến ,
Thành tựu sự xa lìa ngôn thuyết.
98 . Ta sẽ y chứng, y nơi giáo,
Thuyết rõ cho ông, hãy lắng nghe!
Phật tử nghe kỹ ta khai diễn,
Trăm lẻ tám cú Phật liệt kê.

III

Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ bạch Thế Tôn: “Thế nào là một trăm lẻ tám cú nghĩa?”
Thế Tôn dạy:
“Cú nghĩa sinh không phải là cú nghĩa sinh; cú nghĩa thường không phải là cú nghĩa thường .
Cú nghĩa tướng, cú nghĩa vô tướng; cú nghĩa an trụ và biến dịch, cú nghĩa phi an trụ và phi biến dịch; cú nghĩa tự tính, cú nghĩa phi tự tính; cú nghĩa không, cú nghĩa phi không; cú nghĩa đoạn, cú nghĩa phi đoạn; cú nghĩa tâm, cú nghĩa phi tâm.
Cú nghĩa trung, cú nghĩa phi trung; cú nghĩa thường hằng, cú nghĩa phi thường hằng; cú nghĩa duyên, cú nghĩa phi duyên; cú nghĩa nhân, cú nghĩa phi nhân.
Cú nghĩa phiền não, cú nghĩa phi phiền não; cú nghĩa ái dục, cú nghĩa phi ái dục; cú nghĩa phương tiện, cú nghĩa phi phương tiện; cú nghĩa thiện xảo, cú nghĩa phi thiện xảo; cú nghĩa thanh tịnh, cú nghĩa phi thanh tịnh; cú nghĩa tương ưng, cú nghĩa phi tương ưng; cú nghĩa thí dụ, cú nghĩa phi thí dụ.
Cú nghĩa đệ tử, cú nghĩa phi đệ tử; cú nghĩa đạo sư, phi đạo sư cú nghĩa; cú nghĩa chủng tính, cú nghĩa phi chủng tính; cú nghĩa tam thừa, cú nghĩa phi tam thừa; cú nghĩa vô tướng, cú nghĩa phi vô tướng; cú nghĩa nguyện, cú nghĩa phi nguyện.
Cú nghĩa tam luân, cú nghĩa phi tam luân; cú nghĩa hình sắc, cú nghĩa phi hình sắc: cú nghĩa hữu vô, cú nghĩa phi hữu vô; cú nghĩa nhị câu, cú nghĩa phi nhị câu; cú nghĩa tự chứng thánh trí, cú nghĩa phi tự chứng thánh trí; cú nghĩa hiện thế gian pháp lạc, cú nghĩa phi hiện thế gian pháp lạc.
Cú nghĩa sát độ, cú nghĩa phi sát độ; cú nghĩa vi trần, cú nghĩa phi vi trần; cú nghĩa thủy, cú nghĩa phi thủy; cú nghĩa cung, cú nghĩa phi cung; cú nghĩa đại chủng, cú nghĩa phi đại chủng; cú nghĩa toán số, cú nghĩa phi toán số.
Cú nghĩa thần thông, cú nghĩa phi thần thông; cú nghĩa hư không, cú nghĩa phi hư không; cú nghĩa vân, cú nghĩa phi vân; cú nghĩa công xảo, cú nghĩa phi công xảo; cú nghĩa phong, cú nghĩa phi phong; cú nghĩa địa, cú nghĩa phi địa; cú nghĩa tư nghị, cú nghĩa phi tư nghị; cú nghĩa thi thiết, cú nghĩa phi thi thiết; cú nghĩa tự tính, cú nghĩa phi tự tính; cú nghĩa uẩn, cú nghĩa phi uẩn; cú nghĩa hữu tình, cú nghĩa phi hữu tình; cú nghĩa tri nhận, cú nghĩa phi tri nhận; cú nghĩa niết-bàn, cú nghĩa phi niết-bàn; cú nghĩa sở tri, cú nghĩa phi sở tri; cú nghĩa ngoại đạo, cú nghĩa phi ngoại đạo; cú nghĩa loạn, cú nghĩa phi loạn; cú nghĩa huyễn, cú nghĩa phi huyễn; cú nghĩa mộng, cú nghĩa phi mộng; cú nghĩa dương diễm, cú nghĩa phi dương diễm; cú nghĩa ảnh tượng, cú nghĩa phi ảnh tượng; cú nghĩa toàn hỏa luân, cú nghĩa phi toàn hỏa luân; cú nghĩa càn-thát-bà thành, cú nghĩa phi càn-thát-bà thành; cú nghĩa thiên, cú nghĩa phi thiên; cú nghĩa ẩm thực, cú nghĩa phi ẩm thực; cú nghĩa dâm dục, cú nghĩa phi dâm dục; cú nghĩa tà kiến, cú nghĩa phi tà kiến; cú nghĩa ba-la-mật-đa, cú nghĩa phi ba-la-mật-đa; cú nghĩa giới, cú nghĩa phi giới.
Cú nghĩa nhật nguyệt tinh tú, cú nghĩa phi nhật nguyệt tinh tú; cú nghĩa đế, cú nghĩa phi đế; cú nghĩa quả, cú nghĩa phi quả; cú nghĩa diệt, cú nghĩa phi diệt; cú nghĩa diệt khởi, cú nghĩa phi diệt khởi; cú nghĩa y trị, cú nghĩa phi y trị .
Cú nghĩa thể, cú nghĩa phi thể; cú nghĩa chi phần, cú nghĩa phi chi phần; cú nghĩa minh, cú nghĩa phi minh; cú nghĩa thiền định, cú nghĩa phi thiền định; cú nghĩa điên đảo, cú nghĩa phi điên đảo; cú nghĩa hiện kiến, cú nghĩa phi hiện kiến; cú nghĩa thủ hộ, cú nghĩa phi thủ hộ; cú nghĩa chủng tộc, cú nghĩa phi chủng tộc; cú nghĩa tiên nhân, cú nghĩa phi tiên nhân; cú nghĩa vương quốc, cú nghĩa phi vương quốc cú: cú nghĩa nhiếp thụ, cú nghĩa phi nhiếp thụ; cú nghĩa tài bảo, cú nghĩa phi tài bảo; cú nghĩa thuật kí, cú nghĩa phi thuật kí.
Cú nghĩa nhất-xiển-đề, cú nghĩa phi nhất xiển đề; cú nghĩa nam nhân, nữ, lưỡng tính, cú nghĩa phi nam nhân, nữ, lưỡng tính; cú nghĩa vị, cú nghĩa phi vị; cú nghĩa tác, cú nghĩa phi tác; cú nghĩa thân, cú nghĩa phi thân; cú nghĩa tà kế, cú nghĩa phi tà kế; cú nghĩa động, cú nghĩa phi động; cú nghĩa căn quan, cú nghĩa phi căn quan.
Cú nghĩa hữu vi, cú nghĩa phi hữu vi; cú nghĩa nhân quả, cú nghĩa phi nhân quả; cú nghĩa tứ thiên vương thiên, cú nghĩa phi tứ thiên vương thiên; cú nghĩa quý tiết, cú nghĩa phi quý tiết; cú nghĩa mậu lâm, cú nghĩa phi mậu lâm; cú nghĩa đằng la, cú nghĩa phi đằng la; cú nghĩa chủng chủng, cú nghĩa phi chủng chủng; cú nghĩa thuyết giáo, cú nghĩa phi thuyết giáo; cú nghĩa luật chế, cú nghĩa phi luật chế; cú nghĩa Tỷ-kheo, cú nghĩa phi Tỷ-kheo; cú nghĩa trụ trì, cú nghĩa phi trụ trì; cú nghĩa văn tự, cú nghĩa phi văn tự cú”.
Đây là một trăm lẻ tám cú nghĩa được diễn thuyết bởi chư Phật quá khứ.

IV

Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, các thức có bao nhiêu loại sinh, trụ và diệt?”
Thế Tôn dạy:
“Các thức có hai loại sinh, trụ, diệt, không thể được liễu tri bởi ức đoán của ngoại đạo. Đây gọi là tương tục diệt và tướng diệt. Các thức sinh khởi cũng biết có hai loại này, tương tục sinh và tướng sinh: đối với khi trụ, cũng có hai loại, (1) tương tục trụ, (2) tướng trụ.
Các thức có ba loại tướng: (1) Chuyển tướng, (2) nghiệp tướng, (3) phú tính tướng .
Đại Huệ! Các thức được nói có tám loại, y công dụng của nó lại phân biệt thành hai loại: hiện thức và phân biệt sự thức .
Đại Tuệ! Thí như gương sáng hiện các hình sắc, hiện thức cũng như thế, nó hiện ngoại cảnh. Đại Tuệ! Hiện thức và phân biệt thức, hai cái này không dị biệt, hỗ tương làm duyên. Hiện thức do bất khả tư nghị huân biến làm nhân mà khởi công dụng biến hiện. Nhưng Đại Huệ! Phân biệt sự thức, vì vô thủy đến nay do hý luận tác thành tập khí làm nhân, khởi công dụng phân biệt ngoại cảnh.
Lại nữa, Đại Huệ! Tất cả căn thức diệt, tức diệt chủng chủng tập khí do hư vọng phân biệt của Tàng thức , đây được gọi là tướng diệt của thức.
Lại nữa, Đại Huệ! Trí trong tương tục diệt được nói là sở y của thức diệt, sở duyên của thức diệt . “Sở y”: tức chỉ từ vô thủy đến nay do hý luận mà tác thành tập khí; “sở duyên”: tức chỉ ngoại cảnh được kinh nghiệm, được phân biệt bởi thức. Nên không có cái gì khác đây, chỉ duy tâm mà thôi.
Đại Tuệ! Đây như nắm đất và vi trần, không dị không bất dị. Lại nữa, đây như vàng và trang sức vàng. Đại Huệ! Nếu nắm đất có dị biệt với vi trần, thì nắm đất sẽ không do vi trần mà thành; nhưng vì nắm đất thực tế do vi trần tác thành, nên nói nắm đất và vi trần không dị biệt. Nhưng mà nếu nắm đất và vi trần không bất dị, thì nắm đất và vi trần sẽ không khu biệt.
Do đó, Đại Huệ! Nếu chuyển thức có dị biệt với tàng thức, thì tức ở trong thật tướng, tàng thức cũng bất thành chuyển thức nhân: nếu hai cái này không dị biệt, thì chuyển thức diệt tức là tàng thức diệt; nhưng mà thật tướng thì thực tế bất diệt. Vì thế, Đại Huệ được nói diệt, không phải diệt phú tính tướng của tàng thức, mà là nghiệp tướng của thức diệt. Nếu phú tính tướng diệt thì tàng thức cũng diệt; nếu tàng thức cũng diệt, đây tức không khác với đoạn kiến được nói bởi triết gia ngoại đạo.
Đại Huệ! Thông thường các triết gia ngoại đạo thảo luận rằng: thủ trước đối với ngoại cảnh nếu diệt, thì thức tương tục diệt. Khi thức tương tục diệt, tức diệt tương tục từ vô thủy đến nay. Đại Huệ nên biết, triết gia ngoại đạo đó do tác nhân kiến lập tương tục, họ không nói nhãn thức y hình sắc và quang minh hòa hiệp mà sinh, duy chỉ biệt thuyết nhân ấy, như Thắng tính , Sĩ phu , Tự tại thiên , Thời, Cực vi các thứ.

V

Lại nữa, Đại Huệ! Đây có bảy loại tự tính: Tập tự tính, chư hữu tự tính, tướng tự tính, đại chủng tự tính, nhân tự tính, duyên tự tính, thành tự tính .

VI

Lại nữa, Đại Huệ! Đây có bảy loại đệ nhất nghĩa : tâm cảnh giới , trí cảnh giới , bát-nhã cảnh giới , nhị thủ kiến cảnh giới , ly nhị thủ kiến cảnh giới, siêu tử địa cảnh giới, Như lai nội tự chứng cảnh giới .
Đại Huệ! Đây tức tự tính, đệ nhất nghĩa và thể tính thành tựu chư Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Do đây bằng tuệ nhãn nhập hữu pháp cộng tướng và tự tướng mà thành kiến lập. Kiến lập này không tương đồng với tà kiến được chấp trì bởi triết gia ngoại đạo.
Đại Huệ! Sao gọi là tà kiến được chấp trì bởi triết gia ngoại đạo? Họ không tri nhận cái gọi là ngoại cảnh thực tế là hư vọng tự phân biệt của tâm; họ lại không hiểu rằng tự tính của thức không vượt ra ngoài tâm hiển hiện, thật là tâm thiển cận của hàng phàm ngu. Nên họ chấp trì nhị nguyên hữu thể – vô thể, mà không biết đây thực tế một là tự tính, một là đệ nhất nghĩa.
Lại nữa, Đại Huệ! Ta thuyết giáo pháp, thuyết diệt khổ do tam giới cụ túc phân biệt mà khởi; thuyết vô minh, khát ái, nghiệp và các duyên diệt; thuyết tri nhận ngoại cảnh như huyễn, nhưng là tâm tự hiển hiện.

VII

Đại Huệ! Thông thường Bà-la-môn và Sa-môn, biến kế do vô chủng mà khởi sự vật, nên nói vật thể là nhân quả hiện, mà trụ ở trong thời gian, do đây uẩn, xứ, giới sinh khởi ở trong nhân mà thành tương tục, hướng đến tương tục, hướng đến tác dụng, hướng đến sinh, hướng đến diệt, hướng đến hữu, hướng đến niết-bàn, hướng đến đạo, hướng đến nghiệp , hướng đến quả, hướng đến chân thật, đều trì đoạn diệt kiến. Tại sao như vậy? Họ bởi vì chưa thông hiểu căn bản các pháp, cho nên chưa thể hiện quán. Đây như bình chậu vỡ ra từng mảnh, hoàn toàn không thành công dụng của bình nữa, lại như hạt giống bị thiêu cháy, không thể nẩy mầm. Nhưng dù như vậy, Đại Huệ! Họ thấy uẩn, xứ, giới là thật thể, thực tế chưa nếm trải trong đoạn biến dị ấy. Kiến địa của họ thực sự chưa liễu tri đối với sở kiến của khí thế gian thực tế khởi nguyên từ tự tâm biến hiện, duy chỉ là hư vọng phân biệt.
Lại nữa, Đại Huệ! Nếu pháp sinh khởi từ trong vô thể, các pháp nếu do ba duyên đó hòa hiệp mà sinh, thì tức có thể thấy pháp của phi hữu, như rùa mọc lông, như cát trở thành dầu. Do đó, tông kiến ấy thực tế không thể thành lập, nó đã hoại ở trong hư vô. Nhân mà họ sở hành, sở tác và sở thuyết ấy, tất đều vô dụng, hữu thể và phi hữu thể của sở thuyết ấy cũng không có nghĩa lý.
Đại Huệ! Khi họ tranh luận ba duyên hòa hiệp, họ y nơi nhân quả, do đây có quá khứ, hiện tại, vị lai và hữu phi hữu, do nó trụ nơi quyết trạch địa kia, quyết định ấy tức y lý giáo ấy, như thế nó tức sinh tà trí ức niệm . Do đây, Đại Huệ! Kẻ phàm ngu tâm thiển cận bị tà kiến độc hại, lại nói đây do vô minh mà tác thành tư duy điên đảo, tức nhất thiết trí sở thuyết.
Lại nữa, Đại Huệ! Lại có Bà-la-môn và Sa-môn, tri nhận ngoại thế gian của tự tâm, từ vô thủy đến nay, hiển hiện do phân biệt và hý luận mà tác thành; biết thế gian đây vô tự tính, lại còn vô sinh, như vầng mây, như toàn hỏa luân, như càn-thát-bà thành, như huyễn, như quáng nắng, như trăng trong nước, như mộng; tự tâm này lìa phân biệt và nhân duyên, lìa vọng tưởng thuyết, lìa ngôn luận thuyết; biết thân và tư cụ cùng sở trụ xứ, tất cả đều là cảnh giới tàng thức, siêu việt năng sở. Như thế cảnh giới không vọng tưởng từ tự tâm giác, tuyệt không tương ưng với sinh, trụ, diệt.
Đại Huệ! Các vị Bồ-tát Đại sĩ, tư duy như thế, thường trụ không buông, không lâu sẽ đắc sinh tử niết-bàn hai loại bình đẳng. Sở hành này, Đại Huệ! Sẽ y đại bi phương tiện vô công dụng hành, quán tất cả hữu tình như huyễn, như ảnh tượng, không do duyên sinh. Siêu việt sai biệt năng sở, chứng tri ly tâm, tức vô sở đắc. Do vì y chỉ ly duyên khởi, đắc thứ đệ nhập biệt biệt Bồ-tát địa, trụ biệt biệt cảnh giới tam-ma-địa, lại do tín công đức, hiểu tam giới duy tâm, do đây có thể nhập Như huyễn tam-ma-địa .
Bồ-tát do vì thấy duy tâm, đắc nhập vô tướng đạo, do đây mà an trụ ba-la-mật-đa, lại có thể duy trì , lìa tác giả, nghiệp và tu học, nhập y nơi Như lai thân , Kim cương dụ định của như như biến hóa.
Do vì thành tựu chuyển y, Đại Huệ! Họ liền có thể lần lượt hiện chứng Như lai thân, cụ túc lực, thần thông, tự tại, từ, bi, phương tiện dùng làm trang nghiêm, nhập quốc độ chư Phật, nhập điện đường các triết gia ngoại đạo, siêu việt tâm-ý-thức .
Thế nên, Đại Huệ! Vị Bồ-tát Đại sĩ ấy muốn bám sát theo Như Lai thân mà hiện chứng, sẽ quán tu ở trong duy tâm nghĩa, lìa các phân biệt và các hý luận hư vọng về uẩn, xứ, giới, tâm niệm, nhân duyên, nghiệp hành, tu học và sinh, trụ, diệt các thứ.

VIII

Tam hữu từ vô thủy đến nay thực tế duyên tập khí hư vọng phân biệt và hý luận mà hiển hiện, quán cảnh giới Phật địa vô tướng, vô sinh, tức có thể thông đạt Thánh pháp tự chứng, tức có thể vô công dụng hành mà đắc tâm tự tại, như ma-ni bảo có thể biến thành đa dạng sắc màu, tức có thể tùy nghi biến hóa, nhập trong tâm vi tế của các hữu tình. Do vì tin chắc duy tâm nghĩa, tức có thể ở trong Phật đạo tuần tự thăng tiến các địa.

Do đó, Đại Huệ! Các vị Bồ-tát Đại sĩ cần ở trong tự chứng tu học một cách thiện xảo.

IX

Bấy giờ, Đại Huệ bạch Phật rằng: “Cúi mong Thế tôn diễn thuyết pháp môn vi diệu giải thích về tâm-ý-thức, năm pháp, ba tự tính, chư tướng các thứ. Pháp môn này là chỗ tu học của các Bồ-tát Đại sĩ; pháp môn này viễn ly cảnh giới của tâm cho rằng pháp dùng tri nhận thế gian là cái biệt lập vượt ra ngoài tâm; phá môn này phá hủy triệt để cái được nói là chân do được thi thiết bởi ngữ ngôn và hý luận, đó là giáo pháp tâm yếu của chư Phật. Cúi mong ngài thuyết giảng cho các Bồ-tát trong Lăng-già thành, tại núi Ma-la-da, thuyết cảnh giới pháp thân mà chư Như Lai tùy hỷ, thuyết đại dương tàng thức và làn sóng ấy.

Khi ấy, Thế Tôn lại dạy Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ rằng:

Do bốn loại duyên, nhãn thức sinh khởi. Thế nào là bốn?
(1) Thủ trước ngoại cảnh mà không biết do nơi tự tâm;
(2) Do tập khí từ vô thủy đến nay được tích tập bởi hý luận và tà kiến, khiến chấp trì sắc;
(3) Bản tính của thức;
(4) Khát vọng thấy đa dạng sắc tướng.

Có bốn loại duyên này, tàng thức dụ như thác lũ, chuyển thức tức sinh gợn sóng. Thức khác cũng như nhãn thức. Ở trong các căn gồm vi trần và lỗ chân lông, các thức hoặc đốn sinh, như gương sáng hiện các ảnh tưởng; hoặc tiệm sinh, như nước biển bị luồng gió thổi.
Đại Huệ! Lớp sóng của biển tâm cũng lại như thế, bị luồng gió ngoại cảnh thổi không ngừng, nhân, sở tác, tướng, hỗ tương làm duyên không gián đoạn, nghiệp thức và căn bản thức do đây cuốn chặt lẫn nhau mà không thể thoát ly, không thể liễu tri tự tính sắc. Đại Huệ! Năm thức tụ tức khởi dụng như thế. Câu hành với năm thức này có cái được gọi là Ý thức , ngoại cảnh nơi ấy tức được liễu biệt , do phân biệt mà thành tướng, ở đó chuyển khởi sắc thân. Nhưng mà ý thức và các thức khác không biết cái này cái kia hỗ tương làm duyên, nên đối với phân biệt liền khởi chấp trước, phân biệt này thực tế là ảnh xạ của tự tâm. Như thế, các thức đối với sự khởi lập công dụng liên hệ cực kỳ mật thiết, do phân biệt mà hiển hiển là ngoại cảnh.
Do bởi các thức khởi công dụng như thế, nên khi hành giả nhập đẳng chí cảnh giới, không giác tri hoạt động của tập khí vi tế tại đó, do đây lấy sự diệt các thức nhập tĩnh chỉ cảnh. Nhưng mà thực tế các thức chưa diệt, do chủng tử tập khí chưa diệt, nên các thức vẫn y nguyên; được nói là “diệt”: thực tế là ngoại cảnh hoàn toàn không khởi dụng mà họ không còn trở lại chấp trì.
Như thế, Đại Huệ! Tàng thức này hoạt động vi tế, trừ Như Lai và trụ địa Bồ-tát, còn lại kì thật khó biết. Nhị thừa và triết gia ngoại đạo, họ thực thi quán tu, tức khiến y nơi lực và trí của tu định ấy, cũng không thể thông suốt. Chỉ ai nhờ trí lực ấy mà có thể liễu tri các địa tướng Bồ-tát, nơi cú nghĩa có thể đắc quyết định, lại nơi các quốc độ chư Phật vun trồng cội phước đức tư lương, mới có thể vô ngại mà thông tri, do đây họ đắc viễn ly phân biệt và hý luận, phân biệt và hý luận này do tự tâm biến hiện mà ngoại cảnh khởi. Họ ẩn cư núi rừng mà chuyên chú thực hành quán tu, không luận thượng, trung, hạ, chỉ có ai ở trong phân biệt ngoại cảnh có thể hiện quán tự tâm không ngừng , đắc trụ vô biên sát độ được chư Phật quán đỉnh, hiện chứng tự tại lực, thần thông và tam muội, chư thiện tri thức và chư Phật vây quanh, họ mới có thể thông tri tâm-ý-thức, đây tức do lực phân biệt ngoại cảnh mà tâm là tự tính. Họ liền có thể vượt qua biển sinh tử được tác thành do nghiệp, ái, vô minh. Đại Huệ! Hành giả cần phải y chỉ giáo huấn của thiện tri thức và chư Phật mà thực hành tu học quán tu.

Bấy giờ, Thế Tôn lại nói kệ tụng:
99. Như lớp sóng biển bị gió thổi,
Chúng hoạt động nhảy múa không ngừng .
100. Đại dương tàng thức thường như thế,
Bị kích động bởi gió khách cảnh,
Nên thấy các thức sinh nhảy múa,
Đây tức là lớp sóng trùng trùng .
101. Xanh đậm và đỏ, các thứ sắc,
Muối và vỏ ốc, sữa và mật,
Hương thơm của quả và đóa hoa,
Cùng với ánh sáng của mặt trời.
102. Đó đều phi dị phi bất dị,
Giống như biển cả và sóng lớn,
Do đây nói bảy thức tụ kia
Với tâm hòa hiệp mà tương câu.
103. Nó như sóng nhảy múa muôn vẻ,
Khởi trên mặt nước biển lớn ấy,
Được sinh trong tàng thức như thế,
Đây tức nói là các thức vậy.
104. Nơi tâm, ý và các thức kia,
Được phân biệt do hành tướng ấy.
Nhưng cả tám không tướng khác biệt,
Do vì nó không có năng sở .
105. Đây tức như là biển và sóng,
Hai thứ: thực tại không sai biệt,
Như thế nói ở trong tâm ấy,
Không thể biết thức biệt chuyển khởi .
106. Các nghiệp do tâm mà tích tập,
Lại do ý kia khởi tư duy ,
Do thức mà thông tri rõ ràng ,
Năm thức phân biệt thành hiện cảnh.
Khi ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ dùng kệ tụng hỏi rằng :
107. Như xanh đậm, các thứ sắc màu,
Hiển hiển do thức của chúng ta.
Cúi mong Đại Mâu-ni dạy con,
Các thức do đâu như sóng biển?
Bấy giờ, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp :
108. Thật không có đa dạng sắc tướng,
Hiển hiển ở trong sóng biển kia,
Vì dạy phàm phu thiển trí kia,
Nên nói tâm thường chuyển các tướng.
109. Ở trong tự tâm không sở chuyển
Do vì nó siêu việt năng thủ,
Ở đây nói là năng, sở thủ,
Giống như nói biển kia và sóng.
110. Thân và tư cụ cùng trú xứ,
Hiện như thế trong thức chúng ta,
Do nó như thế mà được xem,
Không sai biệt với sóng chuyển khởi.
Bấy giờ Đại Huệ lại nói tụng rằng :
111. Thấy rõ được ở trên đại dương,
Cảnh giới sóng cả như nhảy múa,
Nếu nói tàng thức như biển lớn?
Thì tức cái gì không giác tri?
Khi ấy, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp :
112. Vì do ngu phu vô trí giác,
Nên dụ tàng thức như biển cả,
Trong đó nhảy múa hay sóng lớn,
Tức dùng tướng này mà minh dụ.
Bấy giờ, Đại Huệ lại nói kệ tụng :
113. Mặt trời mọc chiếu khắp thế nhân,
Đây tuyệt không phân ưu và liệt,
Thế Tôn đúng là Thế gian đăng,
Nên thuyết Thật tại cho phàm ngu.
114. Ngài đã an lập ở trong pháp,
Do đâu từ chối thuyết Thật tại? //a-b//
Lúc bấy giờ, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp rằng :
Nhưng song khi ta thuyết Thật tại,
Ở trong tâm kia không Thật tại.
115. Như khi dậy sóng hiện nơi biển,
Như khi chiếu bóng hiện nơi gương,
Đây lại như là nơi mộng cảnh,
Khi dựng tâm hiện nơi căn cảnh .
116. Do vì nơi duyên không cụ túc,
Nên các thức tuần tự chuyển khởi y,
Công dụng ý thức là thông tri,
Ý tức y đây khởi tư duy.
117. Y năm thức thế gian tự hiện,
Nơi cảnh đẳng dẫn không tiệm thứ,
Đây tức như là thầy họa sĩ,
Hoặc ví như đệ tử vị ấy.
118. Nó do sắp đặt màu thành tranh,
Ta nói tranh này không phải màu,
Tranh này cũng không phải vải vẽ,
Lại không do khí cụ thành tranh.
119. Để vừa ý đối với hữu tình,
Tranh được hiển hiện do màu sắc,
Do đây ngôn thuyết lìa chân thật,
Vì do chân thật lìa văn tự .
120. Ta kiến lập ở trong pháp ấy,
Ta thuyết chân thật cho hành giả ,
Chân thật chính là tự chứng cảnh,
Lìa sở phân biệt, năng phân biệt.
121. Ta theo đây dạy các Phật tử,
Đây không thuyết cho phàm ngu kia.
Chủng chủng sở kiến đều như huyễn,
Chúng tận cùng là không sở hữu.
122. Giáo pháp sở thọ có chủng chủng,
Tùy nhân ấy nên có biến dị,
Giáo pháp nếu không thể tương ưng,
Thì tức có như phi giáo pháp.
123. Đây như do tùy theo bệnh trạng,
Lương y cho dùng các loại thuốc,
Thế nên, Phật đà dạy hữu tình,
Cũng y tâm họ cân nhắc giảng .
124. Đây không phải ngoại đạo, thanh văn,
Tâm có thể đến trụ xứ ấy,
Điều được giáo thọ bởi Đại sư,
Thật tế là tự chứng xứ kia.
Bấy giờ, Thế Tôn lại nói kệ tụng:
99. Như lớp sóng biển bị gió thổi,
Chúng hoạt động nhảy múa không ngừng .
100. Đại dương tàng thức thường như thế,
Bị kích động bởi gió khách cảnh,
Nên thấy các thức sinh nhảy múa,
Đây tức là lớp sóng trùng trùng .
101. Xanh đậm và đỏ, các thứ sắc,
Muối và vỏ ốc, sữa và mật,
Hương thơm của quả và đóa hoa,
Cùng với ánh sáng của mặt trời.
102. Đó đều phi dị phi bất dị,
Giống như biển cả và sóng lớn,
Do đây nói bảy thức tụ kia
Với tâm hòa hiệp mà tương câu.
103. Nó như sóng nhảy múa muôn vẻ,
Khởi trên mặt nước biển lớn ấy,
Được sinh trong tàng thức như thế,
Đây tức nói là các thức vậy.
104. Nơi tâm, ý và các thức kia,
Được phân biệt do hành tướng ấy.
Nhưng cả tám không tướng khác biệt,
Do vì nó không có năng sở .
105. Đây tức như là biển và sóng,
Hai thứ: thực tại không sai biệt,
Như thế nói ở trong tâm ấy,
Không thể biết thức biệt chuyển khởi .
106. Các nghiệp do tâm mà tích tập,
Lại do ý kia khởi tư duy ,
Do thức mà thông tri rõ ràng ,
Năm thức phân biệt thành hiện cảnh.
Khi ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ dùng kệ tụng hỏi rằng :
107. Như xanh đậm, các thứ sắc màu,
Hiển hiển do thức của chúng ta.
Cúi mong Đại Mâu-ni dạy con,
Các thức do đâu như sóng biển?
Bấy giờ, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp :
108. Thật không có đa dạng sắc tướng,
Hiển hiển ở trong sóng biển kia,
Vì dạy phàm phu thiển trí kia,
Nên nói tâm thường chuyển các tướng.
109. Ở trong tự tâm không sở chuyển
Do vì nó siêu việt năng thủ,
Ở đây nói là năng, sở thủ,
Giống như nói biển kia và sóng.
110. Thân và tư cụ cùng trú xứ,
Hiện như thế trong thức chúng ta,
Do nó như thế mà được xem,
Không sai biệt với sóng chuyển khởi.
Bấy giờ Đại Huệ lại nói tụng rằng :
111. Thấy rõ được ở trên đại dương,
Cảnh giới sóng cả như nhảy múa,
Nếu nói tàng thức như biển lớn?
Thì tức cái gì không giác tri?
Khi ấy, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp :
112. Vì do ngu phu vô trí giác,
Nên dụ tàng thức như biển cả,
Trong đó nhảy múa hay sóng lớn,
Tức dùng tướng này mà minh dụ.
Bấy giờ, Đại Huệ lại nói kệ tụng :
113. Mặt trời mọc chiếu khắp thế nhân,
Đây tuyệt không phân ưu và liệt,
Thế Tôn đúng là Thế gian đăng,
Nên thuyết Thật tại cho phàm ngu.
114. Ngài đã an lập ở trong pháp,
Do đâu từ chối thuyết Thật tại? //a-b//
Lúc bấy giờ, Thế Tôn dùng kệ tụng đáp rằng :
Nhưng song khi ta thuyết Thật tại,
Ở trong tâm kia không Thật tại.
115. Như khi dậy sóng hiện nơi biển,
Như khi chiếu bóng hiện nơi gương,
Đây lại như là nơi mộng cảnh,
Khi dựng tâm hiện nơi căn cảnh .
116. Do vì nơi duyên không cụ túc,
Nên các thức tuần tự chuyển khởi y,
Công dụng ý thức là thông tri,
Ý tức y đây khởi tư duy.
117. Y năm thức thế gian tự hiện,
Nơi cảnh đẳng dẫn không tiệm thứ,
Đây tức như là thầy họa sĩ,
Hoặc ví như đệ tử vị ấy.
118. Nó do sắp đặt màu thành tranh,
Ta nói tranh này không phải màu,
Tranh này cũng không phải vải vẽ,
Lại không do khí cụ thành tranh.
119. Để vừa ý đối với hữu tình,
Tranh được hiển hiện do màu sắc,
Do đây ngôn thuyết lìa chân thật,
Vì do chân thật lìa văn tự .
120. Ta kiến lập ở trong pháp ấy,
Ta thuyết chân thật cho hành giả ,
Chân thật chính là tự chứng cảnh,
Lìa sở phân biệt, năng phân biệt.
121. Ta theo đây dạy các Phật tử,
Đây không thuyết cho phàm ngu kia.
Chủng chủng sở kiến đều như huyễn,
Chúng tận cùng là không sở hữu.
122. Giáo pháp sở thọ có chủng chủng,
Tùy nhân ấy nên có biến dị,
Giáo pháp nếu không thể tương ưng,
Thì tức có như phi giáo pháp.
123. Đây như do tùy theo bệnh trạng,
Lương y cho dùng các loại thuốc,
Thế nên, Phật đà dạy hữu tình,
Cũng y tâm họ cân nhắc giảng .
124. Đây không phải ngoại đạo, thanh văn,
Tâm có thể đến trụ xứ ấy,
Điều được giáo thọ bởi Đại sư,
Thật tế là tự chứng xứ kia.

X
Lại nữa, Đại Huệ! Nếu Bồ-tát muốn liễu tri cảnh giới phân biệt của năng thủ sở thủ, thực tế là sở hiện của tự tâm, sẽ lìa những chướng ngại như ồn ào, đông đúc, thùy miên các thứ; sẽ lìa luận trước ngoại đạo và pháp nhị thừa: sẽ khiến Bồ-tát Đại sĩ ấy thông đạt tự tâm sở hiện phân biệt tướng.
XI (a)
Lại nữa, Đại Huệ! Đối với Bồ-tát Đai sĩ y chỉ tâm Bát-nhã trí tướng, khi an lập trú xứ , vì ấy sẽ phải tu học trên ba hình tướng Thánh trí .
Thế nào là trên ba hình tướng Thánh trí? Đây tức :
(1) Ly thức cảnh tướng ;
(2) Nhất thiết chư Phật bản nguyện lực gia trì tướng ;
(3) Y thánh trí thú tự chứng phong mục tướng .
Nơi ba hình tướng này đắc tự tại, hành giả phải xả bỏ tâm, bát-nhã, trí được dụ như con lừa què; nhập bồ-tát đệ bát địa, lại tu trên ba hình tướng Thánh trí.
Đại Huệ! Lìa thức cảnh tướng: nên nơi tất cả pháp nhị thừa và ngoại đạo đắc cứu cánh tự tại, rồi mới có thể sinh khởi; nhất thiết chư Phật bản nguyện lực gia trì tướng: do tất cả thệ nguyện của chư Phật mà sinh khởi; y Thánh trí thú tự chứng tướng: do Bồ-tát lìa nhất thiết pháp tướng, hiện chứng tam-ma-địa thân quán tất cả pháp thế gian như huyễn, lại thú nhập Phật địa, do đó sinh khởi. Đây tức ba Thánh cảnh . Y ba điều này, Thánh giả đắc nhập tự chứng cảnh giới. Do bởi đây, Đại Huệ! Ông cần phải tu dưỡng trên ba loại hình thái Thánh trí.
XI (b)
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ, biết sở niệm của các Bồ-tát trong hội chúng, nương lực gia trì của chư Phật, liền hỏi Thế Tôn về sai biệt trong Thánh trí chân thật : “Cúi mong Thế Tôn dạy con, y chỉ một trăm lẻ tám cú nghĩa, pháp môn của sự sai biệt được tác thành trong Thánh trí chân thật . Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác, thuyết biện biệt biến kế tự tính nghĩa cho các Bồ-tát đọa nhập tự tướng và cộng tướng mà quán các pháp. Bồ-tát thông đạt biện biệt biến kế tự tính nghĩa, do đây tức có thể tịnh trị mà nhập hai vô ngã, chiếu sáng các địa Bồ-tát; lại có thể siêu việt tịch chỉ lạc của nhị thừa và ngoại đạo, nhập Như lai pháp thân , đây Như lai hành và Như Lai giới bất khả tư nghị, lại đắc khiến cho năm pháp, ba tự tính không khởi. Tức là họ có thể đắc cùng với tác thành hình thái các pháp Bát-nhã, Trí, lại có thể nhập như huyễn cảnh giới, đi đến quốc độ chư Phật, đến Thiên cung Đâu-suất, lại trụ nơi Sắc cứu cánh thiên, thành tựu Như Lai thân.
XII
Thế Tôn dạy: Đại Huệ! Có một loại ngoại đạo, thái quá nơi vô hữu, y kiến địa kia, khẳng định tự tính tất cả pháp tùy thuận nhân hoại diệt mà vô hữu, tức do phân biệt kiến này mà nói sừng thỏ vô hữu, họ lại nói tất cả pháp vô hữu như sừng thỏ.
Lại nữa, Đại Huệ, lại có một loại ngoại đạo, thấy các pháp tồn tại sai biệt như: đại chủng, phẩm tính, cực vi, thật cảnh, hình và vị các thứ , nên cố chấp thỏ không tồn tại sừng, nhưng bò thì tồn tại sừng.
Đại Huệ! Họ rơi vào nhị nguyên mà không thể liễu đạt duy tâm, họ muốn phân biệt ngoại cảnh được tác thành bởi tự tâm. Đại Huệ! Thân và tư cụ, cùng với sở trụ xứ, thực tế chỉ là phân biệt mà thành tồn tại.
Sừng thỏ phi thị phi phi thị, nên hướng đến điều này không nên phân biệt. Do đây Đại Huệ! Đối với tất cả pháp, chính xác mà biết nó phi hữu phi phi hữu, nơi nó không nên khởi phân biệt.
Lại nữa, Đại Huệ! Lìa nơi hữu và phi hữu, lại không khởi khái niệm: thỏ không tồn tại sừng, do vì tương đối, nó không khái niệm: thỏ không tồn tại sừng, do quán sát sừng bò, đến cực vi cũng bất khả đắc, nên cứu cánh không tồn tại thật pháp . Như thế tức Thánh trí hiện chứng cảnh giới, lìa hữu thể và vô thể.
Khi ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ bạch Thế Tôn: “Không như thế ư? Thưa Thế Tôn! Nếu tướng của kiến không y chỉ phân biệt mà khởi, thế thì ở mức độ kia, do không sinh phân biệt mà nói sừng thỏ là không tồn tại?”
Thế Tôn dạy: Không phải vậy, Đại Huệ! Sừng không vì không sinh khởi phân biệt mà thành vô thể. Tại sao vậy? Do hiện tồn khái niệm sừng tức tồn tại phân biệt. Y chỉ nơi khái niệm sừng, Đại Huệ! Phân biệt liền sinh. Do tính kết dính của phân biệt và khái niệm sừng, Đại Huệ! Tức do tính kết dính ấy mà viễn ly dị bất dị, nên nói sừng thỏ là vô thể, không do tương đối. Đại Huệ! Nếu phân biệt dị nơi khái niệm sừng thỏ, tức sẽ không do sừng là nhận thức mà thành phân biệt; nếu nói bất dị, tức phân biệt thật do sừng là nhận thức mà thành.
Phân tích cực vi mà quán sát, không tồn tại sừng thật thể khả đắc, như thế khái niệm của sừng tức là phi lý, nên sừng trâu và sừng thỏ đều là không tồn tại, hơn nữa, nên nói sừng thỏ là vô thể vậy. Do đó, Đại Huệ! Nơi bò tương đối mà nói rằng: thỏ không sừng, lý bất thành, nơi đây lại không nên khởi phân biệt. Đại Huệ! Triết gia ngoại đạo duy trì nhị nguyên: hữu thể, vô thể, do lý của sừng thì biết rằng nó bất khả đắc.
Đại Huệ! Lại có một hạng triết gia ngoại đạo duy trì tà kiến, họ chấp trước nơi sắc, nhân, số các thứ, bất thiện tri tự tính của hư không, thấy hư không tách biệt với sắc, thuận tòng khởi phân biệt nơi sự tách biệt nhau mà tồn tại của chúng. Nhưng mà Đại Huệ! Không tức là Sắc; lại nữa, Đại Huệ! Do nơi Không nhập nơi sắc nội, vì thế, Sắc tức là Không. Do vì kiến lập năng trì, sở trì, mới nói rằng hai cái này sai biệt đặc điểm, thành: Không và Sắc. Đại Huệ! Khi đại chủng chuyển khởi , thật tế bất đồng đặc điểm thế này thế kia, không trụ nơi hư không, hư không nơi chúng thật tế là không tồn tại. Sừng thỏ cũng như thế, Đại Huệ! Tương đối ấy nơi sừng bò mà thành vô thể, nhưng mà Đại Huệ! Phân tích sừng bò đến cực vi, lại phân tích cực vi đến vô thật khả thành cực vi tưởng, tuy vậy trên hiện hữu có vật gì có thể do tương đối mà thành không tồn tại chăng? Pháp khác cũng vậy, nên do tương đối lập nhận thức, không thể duy trì cho là nhận thức trực tiếp .
Lúc bấy giờ, Thế Tôn lại nói với Đại Huệ rằng:

Đại Huệ! Bồ-tát Đại sĩ cần phải lìa khái niệm phân biệt sừng thỏ và sừng bò, Sắc và Không v.v… Như thế, Đại Huệ! Ông và các Bồ-tát nên tư duy tự tính của tự tâm sở hiện phân biệt, tức sẽ nhập các Bồ-tát địa, công bố pháp quán tu của chúng hiển hiện ở trong tự tâm.

Bây giờ, Đại Huệ! Thế nào là pháp vô ngã?
Tri nhận uẩn, xứ giới lấy tự tính hư vọng phân biệt làm đặc tính. Đại Huệ! Uẩn, xứ, giới không một yếu tố nào có thể mệnh danh là sắc pháp của tự ngã, chỉ là tích tập của uẩn, được kết buộc bằng sợi dây ái và nghiệp, hỗ tương làm duyên khởi, nên nơi nó thật không thể có tác giả. Đại Huệ! Uẩn cũng không tự tướng và cộng tướng, phàm ngu do điên đảo phân biệt mà cấu trúc đa dạng muôn vẻ cảnh sự, trí giả thật không như thế.
Đại Huệ! Tri nhận tất cả pháp lìa tâm-ý-thức, năm pháp, ba tự tính, Bồ-tát Đại sĩ liền có thể thiện thông đạt thế nào là pháp vô ngã. Lại nữa, Đại Huệ, khi Bồ-tát Đại sĩ thiện thông đạt pháp vô ngã, sinh vô tướng quyết định, không lâu liền nhập Sơ địa; khi nơi các địa tướng đắc quyết định, Bồ-tát chứng đắc Hoan hỷ địa; tuần tự tiến lên thành tựu đến Thiện tuệ địa thứ chín, cho đến Pháp vân địa . Ở đây, khi đã tự kiến lập, tức ngồi trên vương tòa trong cung điện đại bảo được gọi là đại liên hoa, toà này hình dạng như hoa sen, tạp bảo trang nghiêm. Họ thành tựu thế gian tự tính như huyễn, các chúng Bồ-tát đồng đẳng vây quanh, được quán đỉnh bởi chư Phật đến từ tất cả quốc độ, như Chuyển luân vương tử. Họ có thể chứng nhập siêu việt Phật tử địa, đắc tự chứng thánh pháp, do hiện quán ở trong các pháp vô ngã, lại đắc viên mãn tự tại pháp thân mà thành Như Lai. Như thế, Đại Huệ! Đây tức các pháp vô ngã, ông và các Bồ-tát đều cần tu học
XXV
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ bạch Phật rằng:
“Cúi mong ngài thuyết giảng cho con về tướng tăng ích tổn giảm, khiến cho con và các Bồ-tát đắc viễn ly ác kiến được khởi bởi tăng ích và tổn giảm, mau chứng Vô thượng chánh đẳng giác; giác rồi, viễn ly tăng ích thường biên và tổn giảm đoạn biên, khiến không huỷ báng chánh pháp nhãn”.
Thế Tôn được Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ thỉnh, lại nói tụng:
135. Ở trong Duy tâm không tăng giảm,
Phàm ngu không hiểu Duy tâm hiện,
Hiện làm thân, tài sản, trú xứ,
Nên nơi tăng giảm khởi bàng hoàng.
Khi ấy, Thế Tôn vì giải thích nghĩa tụng này, dạy rằng: vô hữu mà tăng ích thành hữu, đây có bốn loại. Những gì là bốn?
(1) Tướng vô hữu mà tăng ích thành tướng;
(2) Ngoại đạo kiến vô hữu mà tăng ích thành kiến;
(3) Nhân vô hữu mà tăng ích thành nhân;
(4) Ngoại cảnh vô hữu mà tăng ích thành ngoại cảnh.
Đại Huệ! Đây tức là bốn loại tăng ích.
Lại nữa, Đại Huệ! Tổn giảm là gì? Do vì ngu si, không thiện xảo quán sát tăng ích an trí trong sai lầm.
Đây được gọi là tăng ích và tổn giảm.
Lại nữa, Đại Huệ! Do đâu tướng vô hữu mà tăng ích thành tướng? Tự tướng và cộng tướng của uẩn, xứ, giới vốn đều vô sở hữu, duy chấp thủ nó mà xác nhận, lại khởi kế trước, người hoặc xác nhận nó như thế này mà không phải như thế khác. Tướng vô hữu mà tăng ích thành tướng của phân biệt, nó sinh khởi không ngoài nhân của tập khí được tích luỹ từ vô thuỷ đến nay, rồi sinh kế trước, do biến kế mà thành đa dạng thác kiến. Đây tức tướng vô hữu mà tăng ích thành tướng.
Đại Huệ! Ngoại đạo kiến vô hữu mà tăng ích thành kiến: đây nơi uẩn xứ giới kiến lập kiến nhân ngã, hữu tình, thần ngã, thọ mệnh, trưởng dưỡng, sĩ phu các thứ. Đại Huệ! Đây tức gọi là ngoại đạo kiến vô hữu mà tăng ích thành kiến.
Đại Huệ, tăng ích của nhân vốn vô sở hữu: tức nói là vị sinh thức vốn vô nhân sinh, về sau thuỷ thành như huyễn vô sở hữu, đây tức gọi là vị sinh thức do nhãn, sắc, quang minh, niệm các thứ là duyên mà khởi dụng, đã khởi dụng rồi, lại liền hoàn diệt. Đại Huệ! Đây là tăng ích của nhân vô sở hữu.
Lại nữa, Đại Huệ! Tác khởi tăng ích về ngoại cảnh vô sở hữu: tăng ích này do chấp trước nên vô tác tồn tại tự tính, mà xuất hiện, đây như chấp trước hư không, hoàn diệt, niết-bàn các thứ. Đại Huệ! Các pháp này, thật không phải hữu không phải phi hữu, do tất cả pháp đều ly hữu và phi hữu của quyết trạch. Do đó nên biết, Đại Huệ! Đây như sừng thỏ, sừng ngựa, sừng lạc đà hoặc như phát võng . Phàm ngu ở đây tác khởi phân biệt mà thành chân thật, do nơi nó trí chưa thể thẩm sát duy tâm sở kiến mà vô sở hữu của chân đế, nên tác khởi tăng ích và tổn giảm, trí giả tức không phải như thế. Đây tức tác lập tăng ích tướng về ngoại cảnh vô sở hữu. Do bởi nguyên cớ này, Đại Huệ! Hành giả nên viễn ly tăng ích tổn giảm chấp.
XXVI
Lại nữa, Đại Huệ! Bồ-tát đã cứu cánh liễu tri tâm-ý-thức, năm pháp, ba tự tính, hai vô ngã rồi, do vì lợi tha, sẽ hiện đa dạng sắc tướng , như y duyên khởi mà khởi biến kế tự tính, đây ví như ma-ni bảo hiện đa dạng sắc diện. Các Bồ-tát phổ nhập Phật độ mà hội tụ, sẽ nghe chư Phật tuyên thuyết tự tính như huyễn tưởng, như mộng cảnh, như huyễn tượng, như ảnh tượng, như bóng trăng trong nước, đây lìa nơi sinh tử và thường đoạn. Bồ-tát này đối trước Phật được nghe chân đế, không phải sở hữu của nhị thừa, do đây họ đắc nhập trăm ngàn tam-ma-địa. Do đạt đến trăm ngàn câu chi, na-do tha tam-ma-địa, y tam-ma-địa này mà được du hí khắp từ quốc độ này sang quốc độ khác, lại ở trong đây ngợi khen tam bảo, thị hiện Phật thân, các Thanh văn và Bồ-tát chúng vây quanh, vì khiến họ đắc viễn ly chấp hữu, chấp phi hữu, nên dạy do duy tâm vô cảnh, ở trong cảnh vô hữu chân thật, khiến họ thông đạt.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ tụng này:
136. Phật tử thấy cảnh đều duy tâm,
Nên họ có thể đắc hoá thân,
Sở hành các hành đều viễn ly,
Thành tựu thần thông lực tự tại.
XXVII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại bạch Thế Tôn:
“Thưa Thế Tôn! Cúi xin ngài thuyết giảng cho con thế nào là nhất thiết pháp Không, vô sinh, bất nhị, vô tự tính tướng, con và các Bồ-tát nếu đắc ngộ nhập pháp môn Không tính, vô sinh, bất nhị, vô hữu tự tính, viễn ly hữu vô phân biệt, sẽ có thể mau chóng chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác”.
Rồi thì, Thế Tôn liền hướng đến Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ dạy thế này: “Nay, Đại Huệ! Hãy nghe kỹ điều Ta thuyết giảng, tư duy điều ta thuyết giảng”.
Đại Huệ đáp: “Thưa vâng! Thế Tôn”.
Thế Tôn dạy:
Không tính, Đại Huệ! Không tính thật không ngoài một cú nghĩa biến kế tự tính. Do người chấp trước nơi biến kế tự tính, nên Ta thuyết Không tính, vô sinh, bất nhị, vô tự tính: Đại Huệ! Thuyết minh khái quát, Không tính có bảy loại, đó là:
(1) Tướng Không ;
(2) Chư hữu tự tính Không ;
(3) Vô sở hành Không ;
(4) Sở hành Không ;
(5) Nhất thiết pháp bất khả thuyết Không ;
(6) Đệ nhất nghĩa Thánh trí đại Không ;
(7) Tương đối Không .
Đại Huệ! Tướng Không là gì? Đây nghĩa là các pháp vô tự tướng, cộng tướng, thực tế hỗ tương đối mà thành tích tập; nếu lại phân tích quán sát, Đại Huệ! Tức có thể nói là vô hữu, vô tự tướng, cộng tướng. Do nó không từ chính bản thân nó, không từ một cái khác, không cả hai, Đại Huệ! Tức không thể nói là tướng khả đắc. Đây tức là tất cả pháp do tướng ấy mà thành là Không .
Lại nữa, Đại Huệ, các hữu tự tính Không là gì? Đây nghĩa là tất cả pháp ở trong tự tính ấy vô sinh , do tự tính Không, nên nói tất cả pháp là Không ở trong tự tính .
Lại nữa, Đại Huệ! Vô sở hành Không là gì? Đây nghĩa là các uẩn chính là Niết-bàn, vô thủy đến nay nơi nó thật vô sở tác , do đây nói là vô hành Không.
Lại nữa, Đại Huệ! Sở hành Không là gì? Đây nghĩa là các uẩn thực tế lìa Ta và sở hữu của Ta, chỉ khởi dụng khi nơi nhân và hành hỗ tương hòa hợp , do đây nói là sở hành Không.
Lại nữa, Đại Huệ! Thế nào là nhất thiết pháp bất khả thuyết Không? Đây nghĩa là biến kế tự tính vô khả ngôn thuyết, bởi thế tất cả pháp là bất khả thuyết ở trong Không, do đây nói là bất khả thuyết Không.
Lại nữa, Đại Huệ! Thế nào là đệ nhất nghĩa Thánh trí đại Không? Đây nghĩa là do Thánh trí đắc nội hiện chứng, ở trong tuyệt không do tập khí của tất cả điên đảo sở sinh, do đây nói là đệ nhất nghĩa Thánh trí đại Không.
Lại nữa, Đại Huệ! Thế nào là tương đối Không? Đây nghĩa là nếu một pháp ở đây vô hữu, người ta liền nói nơi nó cũng Không. Ví như, Đại Huệ, ở trong giảng đường Lộc mẫu , không có voi, bò, dê các loại; đối với các chúng Tỷ-kheo, Ta có thể nói giảng đường không phải không có chúng Tỷ-kheo , Không của giảng đường chỉ là không có voi, bò, dê kia mà thôi. Đây không phải nói giảng đường không có tính tướng giảng đường, Tỷ-kheo không có chủng tính Tỷ-kheo, cũng không phải nói trú xứ khác không có voi, bò, dê. Đại Huệ! Nơi trú xứ ấy, người ta ở trong tự tướng, cộng tướng thấy tất cả pháp, nhưng nếu tương đối mà nói , pháp ấy hoặc không thấy nơi khu vực này, do đây liền nói là tương đối Không.
Đại Huệ! Đây là bảy loại Không tính, tương đối Không thấp nhất, ông nên viễn ly.
Lại nữa, Đại Huệ! Nói tất cả pháp vô sinh, không phải nói là nó bất sinh, nhưng mà do nó không thể từ tự thể mà sinh, trừ sở kiến trong tam-ma-địa cảnh giới. Vô tự tính: tức y chỉ mật ý của vô sinh mà nói. Đại Huệ! Nên tất cả pháp vô tự tính, tức ý nói nó thường vô gián như thế, do sát-na biến dịch từ một hữu cảnh này liền sang một hữu cảnh khác , đây là tất cả pháp không cụ bị tự tính, do đây nói tất cả pháp vô tự tính.
Lại nữa, Đại Huệ! Thế nào là bất nhị? Đây nghĩa là quang huy và ảnh chiếu, dài và ngắn, đen và trắng các thứ, đều là danh ngôn tương đối, chúng mỗi mỗi không thể độc lập. Đây như niết-bàn và luân hồi, tất cả pháp đều không phải là nhị nguyên: “Không phải ở ngoài luân hồi, tồn tại Niết-bàn; không phải ở ngoài Niết-bàn, tồn tại luân hồi” , hai điều này y hình thái mâu thuẩn làm nhân mới thành là hữu tính, nên nói tất cả pháp bất nhị, như trường hợp luân hồi niết-bàn vậy. Do nguyên cớ này, Đại Huệ! Ông cần tu học Không tính, vô sinh, bất nhị và vô tự tính.
Khi ấy, Thế Tôn lại nói kệ tụng này:
137. Ta thường luôn thuyết giảng Không tính,
Thật lìa đoạn biên và thường biên,
Luân hồi vốn như mộng, như huyễn,
Mà nghiệp ấy thì không thất hoại.
138. Hư không, Niết-bàn, hai sắc tịch,
Đều bị phàm ngu thủ phân biệt,
Chúng thật không phải là quả pháp,
Trí giả siêu việt nơi hữu vô.
Lại nữa, khi ấy Thế Tôn lại dạy Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ rằng:
“Ở đây, Không, Vô sinh, bất nhị, vô tự tính ấy, có thể thấy ở trong tất cả kinh liễu nghĩa được tuyên thuyết bởi hết thảy chư Phật; vả lại, chư Phật không có bất cứ vị nào không chứ Pháp môn này. Do vậy, Đại Huệ! Kinh điển có duyên cớ do tùy thuận tánh hướng hữu tình mà thuyết giảng, xa lệch cứu cánh nghĩa , không tác chân thật ngữ.
Đại Huệ! Đây ví như ráng nắng dao động như là suối nước mà mà dẫn dụ bầy nai, dao động ấy vô hữu, mà nai thì bị lôi cuốn, tưởng tưởng nó là chân thật, nên đây nơi giáo pháp được thuyết minh trong các kinh bất liễu nghĩa , không ngoài làm hài lòng tâm phân biệt của các hữu tình, không phải chân thật nghĩa của Thánh trí sở trì. Do vì nguyên nhân này, Đại Huệ! Nên tùy thuận nơi nghĩa mà chớ chấp trước nơi ngữ của sở giáo.
XXVIII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, ở trong các kinh , Như Lai tạng được Thế Tôn mô tả như là có bản lai quang tịnh , bản sơ vô cấu , đầy đủ ba mươi hai tướng , thường tồn tại trong thân tất cả hữu tình. Như hạt minh châu vô giá bị bọc trong tấm vải bẩn ; Như Lai tạng tuy bị quấn chặt bởi chiếc áo uẩn, xứ, giới, bị ô nhiễm bởi tham, sân, si và hư vọng phân biệt các thứ, nó vẫn được Thế Tôn mô tả là thường hằng, kiên cố , cát tường , không có biến dịch . Vậy thì, thuyết Như Lai tạng của Thế Tôn dạy, há không đồng với thuyết tự ngã của Ngoại đạo sao? Bạch Thế Tôn! Ngoại đạo cũng chủ trương tự ngã này, rằng Ngã là thường tác giả, lìa phẩm chất, vô sở bất tại, vĩnh hằng bất diệt .
Thế Tôn đáp:
Không phải vậy, Đại Huệ! Như lai tạng của Ta không đồng với thuyết tự ngã được ngoại đạo chủ trương. Các đức Như Lai đã giảng thuyết Như Lai tạng bằng các cú nghĩa Không tính, thật tế, niết-bàn vô sinh, vô tướng, vô nguyện . Do đâu Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác đặc biệt tuyên thuyết pháp môn Như Lai tạng? Với mục đích khiến cho những kẻ phàm ngu dẹp bỏ nỗi kinh hoàng khi nghe giáo pháp vô ngã, lại khiến cho nó có thể tri nhận vô phân biệt và vô tướng cảnh giới . Đại Huệ! Ta mong các vị Bồ-tát hiện tại, vị lai không hướng đến lý này niệm chấp là tự ngã.
Đại Huệ! Đây như thợ gốm dùng khối đất sét chế tạo nhiều thứ vật dụng do người thợ thành thạo khéo léo, dùng thanh gỗ, nước, dây các thứ mà thực hiện. Đại Huệ! Khi Như lai nơi thuyết viễn ly phân biệt, các pháp vô ngã cũng do thù thắng ấy tác thành đa dạng phương tiện thiện xảo, nên có khi thuyết Như Lai tạng, có khi thuyết vô ngã, đây như thợ gốm chế tác nhiều thứ vật dụng, bằng đa dạng danh ngôn, biểu nghĩa, dị môn mà thuyết giảng.
Do nguyên nhân ấy, Đại Huệ! Ngoại đạo chủ trương ngã không đồng với pháp môn Như Lai tạng, thực tế để khai ngộ chấp ngã ngoại đạo, tâm của họ đã đọa nhập vọng kiến, kế trước ngã của vô hữu là chân thật; lại nhập vào đây lấy ba giải thoát là nghĩa của cứu cánh, tức có thể mong chóng chứng đắc Vô thượng chánh đẳng giác.
Y đây, Đại Huệ! Pháp môn Như Lai tạng được Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác tuyên thuyết, không nên xem là ngã được ngoại đạo khẳng định. Vì nó viễn ly tà kiến ngoại đạo, ông nên tinh tấn đối với nghĩa vô ngã Như lai tạng.
XXIX
Bấy giờ, Thế Tôn lại nói tụng này:
139. Sĩ phu, tương tục cùng với uẩn,
Duyên với vi trần và thắng nhân,
Tự tại thiên và năng tác giả,
Tất đều phân biệt trong Duy tâm.
XXX
Lúc ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ quán sát phổ cập thế hệ vị lai, lại thỉnh giáo Thế Tôn:
“Cúi xin ngài thuyết cho con về hiện quán pháp môn mà Bồ-tát Đại sĩ thành bậc Đại tu hành”.
Thế Tôn đáp:
Đây có bốn pháp, Đại Huệ! Thành tựu bốn pháp này, Bồ-tát liền thành bậc Đại tu hành. Những gì là bốn? Đó là:
(1) Quán sát tự tâm sở hiện .
(2) Viễn ly sinh, trụ, diệt tưởng.
(3) Thiện kiến ngoại cảnh vô hữu.
(4) Cầu đắc nội tự chứng Thánh trí tướng.
Đầy đủ bốn điều này, Bồ-tát Đại sĩ thành bậc Đại tu hành.
Do đâu Bồ-tát Đại sĩ quán sát tự tâm sở hiện? Do tri nhận tam giới vô hữu mà Duy tâm, lìa Ta và sở hữu của Ta, không dao động, không đến đi. Do từ vô thủy đến nay, tụ tập khí được biến kế vọng kiến xông ướp, tam giới do đây hiển hiện, các ngoại cảnh loại biệt như thân, tư, trú xứ các thứ và nghiệp, hành nối kết, tương ưng với tâm phân biệt. Đó gọi là Bồ-tát Đại sĩ quán sát tự tâm sở hiện.
Lại nữa, do đâu Bồ-tát Đại sĩ viễn ly sinh, trụ, diệt tưởng? Tất cả pháp như mộng, như huyễn mà sinh khởi hình sắc, chỉ thật vô hữu sinh khởi, do không tồn tại một pháp nào là sinh từ chính bản thân nó, sinh từ một cái khác, sinh từ cả hai. Hành giả đã thấy ngoại hữu cảnh chỉ tương ưng với tâm, lại thấy các thức không hiện tồn dao động, tam giới chẳng qua là một mạng lưới nhân duyên phức tạp, chỉ là phân biệt, tức có thể quán tất cả pháp nội ngoại viễn ly thuộc tính, nơi tự tính ấy thật bất khả đắc, đây tức không thành sinh kiến. Do đây nó tương ưng với hiện quán, chứng các pháp như huyễn tính v.v.. nhập vô sinh pháp nhẫn, an trụ địa thứ tám, nơi đó hiện chứng cảnh giới của địa siêu việt tâm-ý-thức, năm pháp, ba tự tính, hai vô ngã, đắc ý sinh thân .
Bồ-tát Đại Huệ hỏi: “Bạch Thế Tôn! Thế nào là ý sinh thân?”
Thế Tôn đáp:
Đây nghĩa là như tâm niệm ấy, cấp tốc vô ngại mà đi đến, đó là ý sinh thân. Đây ví như tâm ý có thể vô ngại đi qua đỉnh núi, tường vách, sông ngòi, rừng rậm, khi người ấy tác khởi ức niệm, trước tiên thấy được cảnh tuy cách nó trăm ngàn do tuần, chỉ cần tương tục khởi dụng trong tâm ý, liền không gián cách, không chướng ngại. Ý sinh thân cũng lại như thế, nhập như huyễn tam-ma-địa, đắc các tướng trang nghiêm như lực, thần thông, tự tại, tức có thể nhưu ý sinh nơi các thánh đạo, trong thánh chúng; lại nhớ được bản nguyện thành tục tất cả hữu tình. Như thế, Đại Huệ, đây tức Bồ-tát Đại sĩ viễn ly sinh, trụ, diệt tưởng.
Lại nữa, Đại Huệ! Do đâu Bồ-tát Đại sĩ thiện kiến ngoại cảnh vô hữu? Đại Huệ! Đây nghĩa là tất cả pháp như ráng nắng, như mộng, như phát võng; thấy thể tính tất cả pháp như là hữu thể, đây bởi từ vô thủy đến nay, do khởi kế trước tập khí phân biệt của biến kế vọng tưởng thành thục. Bồ-tát Đại sĩ cần đối với điều này cầu đắc Thánh trí tự chứng.
Đại Huệ! Thành tựu bốn điều này, Bồ-tát Đại sĩ thành bậc Đại tu hành. Vì vậy, Đại Huệ! Ông cần phải tu tập.
XXXI
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại thưa Thế Tôn:
“Cúi mong Thế Tôn thuyết cho con nhân duyên tướng của tất cả pháp, khiến con và các Bồ-tát có thể liễu kiến nhân duyên tướng, trừ khử các phân biệt thường đoạn, do đây không còn phân biệt tất cả pháp là thứ đệ sinh khởi, hay đồng thời sinh khởi”.
Thế Tôn đáp:
Đây có hai loại duyên khởi, tất cả pháp do đây mà thành tồn tại, nghĩa là ngoại và nội. Đại Huệ! Ngoại: nghĩa là do khối đất sét, trục gỗ, bánh xe tiện đồ gốm, sợi dây, nước và nhân công các thứ, các duyên hòa hiệp mà thành bình chậu. Tức là như bình chậu này do khối đất sét tạo thành, tấm vải do tơ chỉ, chiếu cỏ do thảo hương , mầm chồi do hạt giống, bơ sữa do nhân công quậy sữa chua, đây cũng như thế, thuộc nơi ngoại duyên của tất cả pháp, mỗi mỗi tương tục thành tựu hiện khởi.
Đến như nội duyên, Đại Huệ, đây như vô minh, ái, hành các thứ, cấu thành ngã v.v.. được nói là duyên khởi pháp, do đây mà sinh, Đại Huệ, tức có uẩn, xứ, giới hiển hiện, chỉ do phàm ngu phân biệt mà thành biệt biệt.
Đại Huệ! Đây có sáu loại nhân:
(1) Vị lai sinh nhân;
(2) Tương thuộc nhân;
(3) Tướng nhân;
(4) Năng tác nhân;
(5) Năng hiển nhân;
(6) Xả nhân .
Đại Huệ, Vị lai sinh nhân: trong khi nhân có thể thành quả, có nội ngoại pháp sinh khởi; Tương thuộc nhân: Đại Huệ! Trong khi duyên có thể thành quả, có chủng tử nội ngoại uẩn các thứ sinh khởi; lại nữa, Tướng nhân: Đại Huệ! Thức y nơi ngoại cảnh, tương tục khởi dụng; Năng tác nhân: Đại Huệ! Như Chuyển luân vương bằng quyền lực tối thượng đưa ra nguyên nhân, do hiển thị nhân; lại nữa, Năng hiển nhân: phân biệt quan năng sinh khởi, hiện thị các tự tướng, như đèn có thể chiếu vật; sau cùng, xả nhân: khi nơi hoàn diệt, hòa hiệp liền không tương tục, do đây sinh khởi cảnh giới vô phân biệt.
Do đó, Đại Huệ, không thứ đệ sinh, cũng không đồng thời sinh, đây chẳng qua do tác khởi phân biệt của thiển tâm phàm ngu chấp trì. Tại sao vậy? Đại Huệ nếu đồng thời sinh, tức nhân và quả tuyệt không sai biệt, vậy thì không thể là nhân kiến lập tính tướng ấy: nếu chấp nhận thứ đệ sinh, tức sẽ không có bất cứ vật nào có thể duy trì tự tướng ấy, do nó tuần tự sinh khởi, đây không hợp lý. Như khi đứa trẻ chưa sinh, sẽ không tồn tại danh ngôn “cha” này. Các nhà chánh lý lập luận, cần phải như vậy: Phàm có sinh khởi, sẽ do nhân duyên, sở duyên duyên, đẳng vô gián duyên, tăng thượng duyên các thứ, hỗ tương liên thuộc rồi mới đắc sinh, họ vì vậy tổng quát hữu cảnh là thứ đệ sinh; nhưng mà, Đại Huệ, thứ đệ sinh ấy thật không thể đắc thành, đây chỉ cho chúng kế trước tự tính nghĩa mà lập luận nhận thức.
Đại Huệ! Nên khi tri nhận thân, tư tài, trú xứ các thứ duy tâm tự biến hiện, thì biết do tự tướng, cộng tướng mà thấy ngoại cảnh, đều phi chân thật. Do vậy, Đại Huệ! Nói các pháp thứ đệ sinh và đồng thời sinh đều không thể được, đây chỉ là khi nơi thức bị kích khởi bởi phân biệt nhận thức, hướng đến phân biệt của tự tâm hiển hiện sở tác. Đại Huệ! Do bởi nguyên nhân này, ông nên đoạn trừ nơi thứ đệ sinh và đồng thời sinh trong nhân duyên hòa hiệp. Đây tức nói:
140. Đối với trong pháp nhân duyên kia,
Thật không có sinh, không có diệt,
Khi nơi nhân duyên bị phân biệt,
Mới thành là sinh, thành là diệt.
141. Đây không nói nó sinh và diệt,
Không tại trong nhân duyên thành lập,
Đây chỉ kiềm thúc các phàm ngu,
Họ hướng nhân duyên khởi biến kế.
142. Lấy pháp hữu vô quy nhân duyên,
Vì vậy trở thành phi chân thật,
Tam giới do tâm thành hữu cảnh,
Do khởi mê loạn nơi tập khí.
143. Hữu cảnh vốn vô, gì được sinh?
Trong nhân duyên cũng không thất hoại,
Pháp hữu vi như hoa hư không,
Cần phải đoạn năng thủ, sở thủ.
144. Thật không có pháp chưa từng sinh,
Cũng không có pháp từng sinh khởi,
Tức khiến nhân duyên cũng vô hữu ,
Vì thế tục nên nói là hữu.
XXXII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ, lại thưa Thế Tôn:
“Cúi mong Thế Tôn thuyết cho con về tâm yếu của ngữ ngôn phân biệt tính tướng kia, do giáo pháp này, con và các Bồ-tát Đại sĩ đắc thiện tri ngữ ngôn phân biệt tính tướng, thông đạt nghĩa hai pháp năng thuyên và sở thuyên, do đây mau chóng chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác, khiến tất cả hữu tình ở trong hai nghĩa này đắc thanh tịnh”.
Thế Tôn đáp:
“Thật như thế, Đại Huệ! Ông hãy lắng nghe rõ, tư duy kỹ, Ta sẽ thuyết giảng cho ông điều ấy.
Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ thưa: “Lành thay, Thế Tôn!”, nói rồi liền hướng về Thế Tôn mà lắng nghe.
Thế Tôn dạy
Đây có bốn loại ngữ ngôn phân biệt, đó là:
(1) Tướng ngữ ngôn ;
(2) Mộng ngữ ngôn ;
(3) Ngữ ngôn được khởi bởi kế trước vọng niệm và phân biệt ;
(4) Ngữ ngôn được khởi bởi vô thủy phân biệt .
Lại nữa, Đại Huệ! Tướng ngữ ngôn: do phân biệt hình sắc và tính tướng, lại chấp lấy là chân thật, do đây sinh khởi; Mộng ngữ ngôn: Đại Huệ! Trong khi hồi ức các cảnh giới trước kia đã từng kinh nghiệm, y cảnh phi hiện thực sinh khởi; Ngữ ngôn được khởi bởi kế trước vọng niệm và phân biệt: Đại Huệ! Do ức niệm nghiệp cạnh tranh được tạo tác trong quá khứ; Ngữ ngôn được khởi bởi vô thủy phân biệt: Đại Huệ! Do tập khí sinh khởi. Chủng tử tập khí ấy tức từ vô thủy đến này sinh từ trong vọng tưởng và biến kế.
Đại Huệ! Ta nói bốn loại hình thái ngữ ngôn phân biệt này, đã trả lời hoàn tất câu hỏi của ông.
XXXIII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ thỉnh Thế Tôn thuyết pháp môn này, do đó nói rằng:
“Thế Tôn! Cúi mong lại nói cho con về ngữ ngôn phân biệt tự hiển hiện y gì làm nhân? Xứ gì? Thời gì? Như thế nào? Do ai khiến phân biệt trong chúng hiện khởi?”
Thế Tôn dạy:
Đại Huệ! Ngữ ngôn phân biệt y đầu, ngực, mũi, cuống họng, vòm họng, môi, lưỡi, răng lợi hòa hiệp mà sinh khởi.
Đại Huệ thưa:
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Ngữ ngôn và phân biệt là dị hay bất dị ?
Thế Tôn đáp:
Đại Huệ! Đây phi dị phi bất dị. Tại sao vậy? Vì ngữ ngôn sinh khởi do phân biệt làm nhân, Đại Huệ, nếu ngữ ngôn dị biệt với phân biệt, thì không phải do nó làm nhân. Nhưng nếu là bất dị, thì ngữ ngôn không thể hiển nghĩa, mà nó thật có thể. Nên ngữ ngôn và phân biệt phi dị phi bất dị.
Đại Huệ nói:
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Ngữ ngôn là đệ nhất nghĩa? Hay ngữ ngôn sở thuyết là đệ nhất nghĩa?
Thế Tôn đáp:
“Đã không phải ngữ ngôn, cũng chẳng phải sở thuyết là đệ nhất nghĩa. Tại sao vậy? Đệ nhất nghĩa là đại lạc thắng cảnh, không phải chỉ do ngôn thuyết mà có thể đắc nhập, nên ngữ ngôn không phải đệ nhất nghĩa. Đại Huệ! Do Thánh trí nội tự chứng mới nhập đệ nhất nghĩa, đây không phải cảnh giới ngữ ngôn phân biệt, nên phân biệt không thể thuyết ra đệ nhất nghĩa. Đại Huệ! Ngữ ngôn y nơi sinh diệt, nó không phải kiên cố an toàn, nối kết do duyên và y chỉ nơi duyên khởi. Đại Huệ! Nối kết do duyên và y chỉ nơi duyên khởi, tức không thẻ biểu đạt đệ nhất nghĩa, do bởi nó hiện hữu từ chính nó và từ cái khác, từ chính nó và từ cái khác ấy là phi hữu. Đại Huệ! Ngữ ngôn chỉ thị từ cái khác, nên không phải thuyết minh đệ nhất nghĩa.
Thêm nữa, Đại Huệ! Ngữ ngôn phân biệt không thể biểu đạt đệ nhất nghĩa, do đa dạng tướng ngoại cảnh thảy là vô hữu, duy tự tâm triển hiện ở trước người ấy, hiển hiện mà thành vật. Thế nên, Đại Huệ! Ông nên mong muốn viễn ly đa dạng hình thái ngữ ngôn phân biệt.
XXXIV
Cho nên nói rằng:
145. Tất cả các pháp vô tự tính,
Ngữ ngôn nên cũng lìa chân thật,
Phàm ngu không giải không: Không nghĩa.
Do đây chúng mới thành lưu chuyển.
146. Tất cả các pháp vô tự tính,
Ngữ ngôn phân biệt không chân thật,
Các pháp như huyễn, lại như mộng,
Đều không trụ luân hồi, niết-bàn.
147. Đây như vương giả hoặc trưởng giả,
Muốn khiến con nô đùa vui chơi,
Trước cho các tượng đất thú vật ,
Sau mới cấp cho thú vật thật.
148. Nên Ta giáo đạo đệ tử Ta,
Các pháp đa dạng hình và dáng ,
Đến như thật tế Ta chưa nói,
Đây tức chỉ thường nội tự chứng.
XXXV
Khi ấy, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại thưa Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn! Cúi mong ngài dạy cho con về cảnh giới trụ xứ Thánh trí tự chứng, đây không phải con đường và hiệu dụng của ngoại đạo, lìa cú nghĩa hữu thể – vô thể, đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, hữu – phi hữu, thường – phi thường các thứ; đây không liên hệ đến biến kế, không phải tự tướng cũng không phải cộng tướng; đây tự hiển hiện nơi đệ nhất nghĩa đế; đây tuần tự thăng tiến trên các địa thanh tịnh mà nhập vào Như Lai địa; đây do bản nguyện lực vô công dụng hành, như hạt châu ma-ni phổ hiện các sắc, nơi trong vô biên thế gian phổ khởi nơi hành; đây ở trong các pháp biến hiện thành tướng trạng, như người tâm tự sở kiến, thành tri nhận giới. Khiến cho Con và các Bồ-tát có thể do kiến giải này mà quán sát các pháp, lìa tự tướng, cộng tướng, cũng không bị các pháp biến kế, do đây mong chóng chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác, làm cho tất cả hữu tình thành tựu viên mãn công đức ấy”.
Thế Tôn đáp: Tốt lắm, tốt lắm, Đại Huệ! Tốt lắm. Ông thương xót thế gian, vì lợi ích hữu tình, vì an lạc hữu tình, vì chư Thiên, vì nhân loại chúng hữu tình, đắc nghĩa lợi an lạc, Đại Huệ, mới thường trước mặt Ta mà thưa hỏi điều này. Do đó, Đại Huệ! Hãy chân thành lắng nghe, tư duy, Ta sẽ thuyết giảng cho ông.
Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ nói: “Thưa vâng!”, ngay sau đó liền hướng đến Thế Tôn, lắng tai nghe.
Thế Tôn dạy vị ấy rằng:
Phàm ngu và kẻ thiển trí không biết thế gian là được thấy bởi tự tâm, thích chấp trì đa dạng tụ ngoại cảnh, chấp trì cú nghĩa hữu thể – vô thể, đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, hữu – phi hữu, thường – phi thường các thứ, tự tính tướng của chúng do tập khí mà sinh và phân biệt đưa đến sinh khởi, do đây mà thành tự tính tướng.
Đây như ráng nắng thấy là suối nước, như là chân thật, muông thú nơi thời tiết này, nóng khổ thành khát, liền bám theo kế trước đây, không biết dòng suối này là mê huyễn của tự tâm. Không biết thực tế không tồn tại dòng suối. Phàm ngu và kẻ thiển kiến, cũng giống như vậy, tâm ấy bị điên đảo và phân biệt xông ướp từ vô thủy đến nay: tâm ấy bị ngọn lửa tham, sân, si thiêu đốt, tức thích thú nơi thế gian đa dạng sắc tướng, hài lòng nơi sinh, trụ, diệt kiến, bất thiện tri hữu phi hữu, nội ngoại, như thế, kẻ phàm ngu thiển trí liền rơi vào trong chấp trước đồng nhất-dị biệt, hữu thể-vô thể các thứ.
Đại Huệ! Đây như Càn-thát-bà thành, người bất tri thủ chấp nó cho là thật, nhưng thực tế không phải như vậy. Hiển hiển của thành phố, thực tế do chấp thủ đối với ức niệm về thành phố, từ vô thủy đến nay, cái này tích tụ làm chủng tử, như thế liền thành thể tính hiển hiện. Thành phố này thật là không phải hữu không phải phi hữu. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Nếu khởi chấp trước đối với tập khí được cấu thành bởi vọng tưởng vọng kiến từ vô thủy đến nay, tức bám chặt đồng nhất-dị biệt, hữu thể vô thể, do đây đối với tự tâm sở kiến tức hoàn toàn không hiểu.
Đại Huệ! Đây như có người, ở trong mộng thấy thành phố đầy cả nam nữ, voi ngựa, xe cộ, xóm phường, lâm viên, sông núi muôn vàn cảnh tượng, chỉ chưa vào đến cung điện, thì liền thức giấc. Tỉnh rồi, người ấy truy xuất kí ức về thành phố ấy và lầu điện trung tâm thành phố. Đại Huệ! Ông nghĩ sao? Người ấy nắm lấy muôn vàn sở kiến phi chân thật trong mộng mà thành truy xuất kí ức, người này có thể mệnh danh là trí giả không?
Đại Huệ nói: “Dạ không, bạch Thế Tôn”.
Phật dạy tiếp:
Phàm ngu và kẻ thiển trí cũng vậy, họ bị tà kiến nuốt chửng, chấp trước nơi ngoại đạo, không biết các pháp được thấy bởi tự tâm nó thực tế như là giấc mộng, như thế liền bám chặt cú nghĩa đồng nhất – dị biệt, hữu thể – vô thể các thứ.
Đây như mảnh đất được vẽ bởi họa sỹ, vốn không cao thấp, nhưng người ngu thì phân biệt nó cao thấp. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Nơi biên tế vị lại, hoặc có người ở trong tập khí, tâm thức và kế trước bị giáo dưỡng ở trong tà kiến ngoại đạo, do đây chấp trì chính nó, chấp trì cái khác, chấp trì cả hai, chấp trì phi cả hai, mà thành tự hoại, hoại tha; họ hoặc báng hủy báng việc lìa hữu thể – vô thể mà đắc vô sinh pháp nhẫn là thuyết đoạn diệt; họ lại hủy báng thuyết nhân quả; họ bám theo tà kiến mà bạt nhổ vô cấu thanh tịnh công đức căn, họ mong cầu thắng pháp rời xa.
Tư tưởng của họ bị cuốn chặt do điên đảo đồng nhất, dị biệt, cả hai v.v.. ở trong điên đảo khởi kế trước hữu thể – vô thể, tăng ích – tổn giảm. Địa ngục là môi trường tiến đến sau chót của họ.
Đại Huệ! Đây người những kẻ mắt nhặm thấy phát võng , vì vậy nói với các người khác: “Điều này hy hữu , điều này thật hy hữu! Hãy nhìn ngắm kỹ, hỡi Trưởng giả!”. Nhưng cái được gọi phát võng ấy, nó thật chưa từng tồn tại. Do vì kiến và bất kiến, có thể nói nó sự thật là phi tại phi bất tại. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Người tâm say đắm nơi tà kiến phân biệt của ngoại đạo, khước từ tri nhận chân thật về hữu thể-vô thể, đồng nhất-dị biệt, cả hai – phi cả hai v.v… vì vậy trái ngược thiện pháp, kết cục thành tự hủy, hủy tha.
Đại Huệ! Đây như toàn hỏa luân, không thực sự là bánh xe, chỉ có phàm ngu kế trước tính tướng như thế. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Tâm người ấy rơi vào tà kiến ngoại đọa, sẽ tà kế đồng nhất-dị biệt, cả hai – phi cả hai trong sự sinh khởi của tất cả hữu tình.
Đại Huệ! Đây như bọt nước trong mưa, tợ như hạt châu ma-ni, phàm ngu cho nó thật là hạt châu ma-ni, vì vậy đuổi theo. Đại Huệ! Đây chẳng qua là bọt nước, không phải hạt châu – không phải phi hạt châu, do nó có thủ trước như thế, cũng có thủ trước không như thế. Ở đây cũng vậy, họ tâm bị xông ướp bởi ngoại đạo tà kiến và phân biệt, thích ở nơi các pháp: phi hữu mà nói là sinh, hữu mà nói là nhân duyên sở hoại.
Lại nữa, Đại Huệ, do kiếp lập ba loại nhận thức và năm đoạn luận, vì vậy liền thành phân biệt, họ nói tự nội chứng thánh trí, lìa tự tính hai thủ, nhưng đủ tự tính chân thật mà tồn tại. Đại Huệ! Nếu ở trong tu hành, tâm-ý-thức khởi chuyển y, tức trong điều được thấy bởi tự tâm, xả ly năng thủ-sở thủ, như thế nhập Như Lai địa, đặc nội tự chứng Thánh trí, do vậy tuyệt không tồn tại hữu tưởng, phi hữu tưởng ấy. Lại nữa, Đại Huệ! Thuyết tự tính, tự tướng, cộng tướng các pháp, đây thật là giáo pháp của Hóa Phật, không phải Pháp tính Phật. Lại nữa, Đại Huệ! Giáo pháp ấy của Hóa Phật thực tế là phương tiện đối với phàm ngu, tùy thuận tâm ấy, tùy thuận phương thức tư duy ấy, tùy thuận kiến nhất thiết pháp ấy. Tất cả thi thiết duy chỉ thuyết minh tự tính, mà không phải là hiển thị Thánh trí tự chứng và an trụ tam-ma-địa lạc cảnh.
Đại Huệ! Đây như bóng cây trong nước, là ảnh tượng – là phi ảnh tượng, là tướng cây – là phi tướng cây. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Họ bị xông ướp bởi tà kiến ngoại đạo và tập khí, nắm lấy phân biệt mà bảo thủ đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, hữu – phi hữu, do tâm ấy chưa thể lìa phược thủ, mà không thể tri nhận duy tâm sở kiến.
Đại Huệ! Đây như gương sáng hiện muôn vẻ hình sắc, muôn vàn dấu hiệu, đây tùy duyên mà khởi, không y phân biệt, mà nó thật không phải dấu hiệu – không phải phi dấu hiệu, do kiến ấy mà thành dấu hiệu, vì kì thật không phải dấu hiệu. Đại Huệ! Họ khởi phân biệt đối với hình sắc được thấy bởi tự tâm, tức là cái dấu hiệu như phàm phu nhận biết. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Đồng nhất-dị biệt, cả hai – phi cả hai, nơi tự tâm thành dấu hiệu, như là thật sự hiển hiện.
Đại Huệ! Đây như tiếng dội của tiếng người, tiếng sông, tiếng gió v.v.. phi hữu – phi phi hữu, do thính văn ấy mà tợ như là tiếng, vì kì thật không phải tiếng. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ, hữu thể – vô thể, đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, đều là tự tâm phân biệt và tập khí.
Đây như chỗ không có cỏ, dây leo, cây bụi, cây cao, thì ráng nắng nhân nơi ánh sáng mặt trời mà hiển hiển thành như lớp sóng, đây là phi hữu – phi phi hữu, do vì y tham hoặc bất tham. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Vô minh phân biệt thức bị xông ướp bởi biến kế vọng tưởng tập khí từ vô thủy đến nay, tức dao động như sóng nắng, tức khiến triển hiện trong chân thật của nội tự chứng Thánh trí, cũng khởi lớp sóng sinh – trụ – diệt, đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, hữu thể – vô thể.
Đại Huệ! Đây như Quỷ khởi thi dùng chú lực ấy khiến cho thi thể đứng dậy, như cơ quan khiến cho người gỗ vận động, đây không phải tình trạng tự lực bởi thi thể và người gỗ, chỉ kẻ phàm ngu quán chấp vô hữu cho là hữu, nên biến kế nó do tự lực mà hoạt động. Ở đây cũng vậy, Đại Huệ! Phàm ngu và kẻ thiển trí ủy thác thân mình cho tà kiến điên đảo của ngoại đạo, tức lọt vào tự tha nghĩa, nhưng mà tăng ích của họ thật tế hoàn toàn không có cở sở căn cứ thành lập vững chắc. Do nguyên nhân ấy, Đại Huệ! Để đắc nội tự chứng thánh chân thật ở trong tu học, ông cần xả ly phân biệt có thể dẫn nhập cú nghĩa sinh – trụ – diệt, đồng nhất – dị biệt, cả hai – phi cả hai, hữu thể – vô thể các thứ.
Do vậy, liền nói kệ tụng này:
149. Thức chính là uẩn tụ thứ năm,
Tợ như là bóng cây trong nước,
Cũng xem nó như huyễn và mộng,
Không nên y thức khởi phân biệt.
150. Tam giới tợ như pháp ti võng,
Xao động tợ mặt nước sóng nắng,
Nó cũng lại như huyễn và mộng,
Hiện quán như thế liền giải thoát.
151. Ví như sóng nắng lúc ngày xuân,
Tâm bị động loạn liền khả kiến;
Thú khát biến kế cho là nước,
Nhưng mà ở đó không thật nước.
152. Do nơi thức chủng khởi hiện hành,
Thế gian do đây thành khả kiến,
Phàm ngu kế trước đây sinh khởi,
Như là mắt nhặm nhìn trong tối.
153. Vô thủy, tức thấy nó vô minh
Khởi lưu chuyển trên sinh tử đạo,
Chấp trước nơi hữu thành kéo buộc,
Như nêm mở mêm mà xả ly.
154. Thế gian thường như huyễn, khởi thi,
Như cơ quan và mộng, chớp, mây,
Xé rách ba pháp tương tục rồi,
Hành giả tức thì thành giải thoát.
155. Ở đây vô hữu, chỉ thi thiết,
Chỉ như quáng nắng trong hư không,
Nếu thường như thế biết các pháp,
Có thể nói là vô sở tri.
156. Do thi thiết, lại do danh ngôn,
Nên tìm tướng ấy bất khả đắc,
Các uẩn tợ như phát ti võng,
Ở trong hiện hành khởi phân biệt.
157. Thế gian đông đảo như phát võng,
Lại như huyễn, mộng, tầm hương thành,
Như toàn hỏa luân, như sóng nắng,
Phi hữu và chỉ thành hiển hiện.
158. Thường-phi thường, đồng nhất-dị biệt,
Cả hai, phi cả hai, các thứ.
Kẻ ngu mê loạn, tâm phân biệt,
Vô thủy đến nay thành hệ phược.
159. Trong gương, trong nước và trong mắt,
Trong bình cùng với trên hạt châu,
Đều khả kiến ảnh tượng sở thành,
Nhưng thật không thể nắm ảnh ấy.
160. Như là ráng nắng trong hư không,
Đa dạng sự vật chỉ hiện hiện.
Tuy nhiên hình sắc mỗi khác biệt,
Đều như con trong mộng thạch nữ.
XXXVI
Lại nữa, Đại Huệ! Giáo pháp Như Lai lìa nơi tứ cú. Đây tức lìa: đồng nhất, dị biệt, cả hai, phi cả hai. Chính là lìa hữu thể – vô thể, tăng ích và tổn giảm.
Giáo pháp của Như Lai, đứng đầu là thuyết tứ đế, mười hai chi duyên khởi và tám Thánh đạo dẫn hướng giải thoát. Đại Huệ! Giáo pháp Như Lai không rơi vào các thứ cú nghĩa như vậy, như thắng tính , tự tại , vô nhân, tự sinh, vi trần, thời, tự tính tương tục v.v..
Lại nữa, Đại Huệ! Như đại thương chủ của chúng nhân thiện đạo, vì để tịnh hóa hai loại chướng là sở tri chướng và phiền não chướng của chúng, nên an lập chúng ở trong một trăm lẻ tám cú nghĩa vô tướng, do tính tướng tác thành các thừa khu biệt, các địa khu biệt, yếu nghĩa khu biệt.
XXXVII
Lại nữa, Đại Huệ! Đây có bốn nhóm thiền . Những gì là bốn?
(1) Ngu phu sở hành thiền ;
(2) Quán sát nghĩa thiền ;
(3) Phan duyên như tính thiền ;
(4) Như Lai thiền .
Thế nào là ngu phu sở hành thiền? Đây nghĩa là tu học ở trung nhị thừa, khởi quán tu, thấy nhân vô ngã, các pháp tự tướng, cộng tướng, quán bạch cốt, vô thường, khổ, bất tịnh các thứ, kiên trì thủ hộ các nghĩa lý này, ngoài điều này dứt khoát không có điều khác, tuần tự thăng tiến, đến đắc diệt thọ tưởng định. Đây tức ngu phu sở hành thiền.
Đại Huệ! Thế nào là quán sát nghĩa thiền? Đây nghĩa là hành giả đắc nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng rồi, lại siêu việt vô nghĩa lý về cú nghĩa tự, tha, cả hai của ngoại đạo, mới có thể tùy thuận các địa, nơi đa dạng nghĩa pháp vô ngã khởi quán sát. Đây tức quán sát nghĩa thiền.
Đại Huệ! Thế nào là phan duyên như tính thiền?
Đây nghĩa là chứng tri nơi hai vô ngã: phân biệt chỉ là hư vọng, do đây ở trong như thật , kiến lập vô phân biệt. Đây tức phan duyên như tính thiền .
Đại Huệ! Thế nào là Như Lai thiền?
Đây nghĩa là nhập Như lai chủng tính địa, trụ ở trong ba loại lạc của tính tướng nội tự chứng thánh trí, vì các hữu tình thành tựu bất khả tư nghị sự, Ta nói đây là Như Lai thiền.
Vì vậy, nói kệ tụng:
161. Đây có ngu phu sở hành thiền,
Cùng với quán sát nghĩa lý thiền,
Lấy “Như” làm duyên của Thiền định,
Cùng với Như lai thanh tịnh thiền.
162. Hành giả ở trong quán tu kia,
Khi thấy hình tướng của nhật nguyệt,
Hoặc thấy hoa sen, trú xứ ma,
Hư không, ngọn lửa, nhiều sắc tướng.
163. Tất cả các hiển hiện như thế,
Đều dẫn dắt người nhập ngoại đạo,
Hoặc là rơi vào thanh văn cảnh,
Hoặc rơi vào trong duyên giác giới.
164. Tận xả ly nhập vô tướng cảnh,
Thuận chân như duyên liền hiện tiền,
Phật các quốc độ duỗi tay vàng,
Xoa đầu của người cụ duyên kia.
XXXVIII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại thưa Thế Tôn:
Thế Tôn thuyết giảng Niết-bàn, thế nào là Niết-bàn?
Nơi tự tính và tập khí của tất cả thức – bao gồm: A-lại-da thức (tâm), Mạt-na thức (ý) và Ý thức (thức thứ sáu), biến kế tập khí tức do môi trường đó sinh, nên khi các thức ấy đều thành chuyển y, Ta và Chư Phật mệnh danh đấy là niết-bàn. Niết-bàn đạo và niết-bàn tự tính đều là Không tính, là chân thật cảnh giới.
Thêm nữa, Đại Huệ! Niết bàn là cảnh giới nội tự chứng Thánh trí sở hành, viễn ly thường hằng – đoạn diệt, hữu thể– vô thể .
Thế nào là không phải thường hằng? Do vì nó đã lìa phân biệt tự tướng – cộng tướng, vì thế không phải thường hằng. Thế nào là không phải đoạn diệt? Do được nội tự chứng bởi tất cả trí giả quá khứ, hiện tại, vị lai, vì vậy không phải đoạn diệt.
Lại nữa, Đại Huệ! Đại bát niết-bàn không phải hoại diệt, không phải sự chết. Đại Huệ! Nếu Đại bát niết-bàn là sự chết thì sẽ lại hữu sinh và tương tục. Đại bát niết-bàn nếu là hoại diệt, thì nó sẽ là hữu vi pháp. Do nguyên cớ này, Đại bát niết-bàn không phải hoại diệt, không phải sự chết, là chỗ quy thú của hành giả.
Lại nữa, Đại Huệ! Đại bát niết-bàn vô xả cũng vô đắc, không phải thường cũng không phải đoạn, không phải nhất nghĩa cũng không phải vô nghĩa, đó gọi là Niết-bàn.
Lại nữa, Đại Huệ! Niết-bàn của nhị thừa, thấy được ở trong viễn ly thế duyên, ở trong thế gian không điên đảo, không khởi phân biệt, hiện chứng tự tướng – cộng tướng. Đây là Niết-bàn tưởng của họ.
XXXIX
Lại nữa, Đại Huệ! Đây có hoại loại tính tướng của tự tính. Những gì là hai? Đó là, (1) chấp trước ngôn thuyết mà khởi tự tính; (2) chấp trước cảnh sự mà khởi tự tính, đó là hai loại tính tướng.
Chấp trước ngôn thuyết mà khởi tự tính: Đại Huệ! Đó là do vô thủy đến này chấp trước nơi ngôn thuyết của tập khí và biến kế mà khởi.
Chấp trước nơi ngoại cảnh mà khởi tự tính: Đại Huệ! Đó là do không biết ngoại thế gian thực tế chỉ do tự tâm mà khởi.
XL
Lại nữa, Đại Huệ! Đây có hai loại gia trì lực của đức Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác, vì đắc gia trì lực, Bồ-tát Đại sĩ mới được đảnh lễ chân Phật mà thưa thỉnh.
Thế nào là hoai loại lực gia trì các Bồ-tát?
Thứ nhất, do lực khiến đắc nhập tam-ma-địa và tam-ma-bát-đế; thứ hai, do lực khiến được chư Phật hiện thân ở trước mặt họ mà duỗi tay quán đỉnh.
Đại Huệ! Được lực gia trì của Phật, Bồ-tát Đại sĩ thuộc sơ địa có thể nhập tam-ma-địa của Bồ-tát, mệnh danh là “Đại thừa quang minh tam-ma-địa” . Nhập rồi, tức thấy mười phương Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác hiện thân trước mặt, đối diện Bồ-tát ấy, dùng thân, ngữ, ý gia trì. Đại Huệ! Đây như Bồ-tát Đại sĩ Kim Cang Tạng và của các vị khác thành tựu công đức và tính tướng như thế của vị Bồ-tát Đại sĩ, nó là như thế.
Do vậy, Đại Huệ! Bồ-tát Đại sĩ thuộc sơ địa ở trong tam-ma-địa và tam-ma-bát-đế được lực gia trì của Như Lai. Do trăm ngàn kiếp tích tập tư lương phước đức, tuần tự tiến lên các địa, thành tựu thiện xảo năng đối trị tướng – sở đối trị tướng, mà đạt đến Pháp vân địa của Bồ-tát.
Nơi đây, Bồ-tát Đại sĩ ấy thấy bản thân ngồi trên bảo tòa, trong cung điện đại liên hoa vi diệu, chúng Bồ-tát Đại sĩ đồng bậc vây quanh, đầu đội các bảo quan có báu vật trang nghiêm, thân như sắc hoàng kim của hoa chiêm-bồ , như vầng trăng tròn, phóng chiếu đại quang minh. Mười phương chư Phật duỗi tay liên hoa mà quán đỉnh cho các vị ấy. Bồ-tát Đại sĩ ngồi trên tòa trong cung liên hoa, được Phật quán đỉnh như quán đỉnh chuyển luân vương thái tử. Như thế, Bồ-tát Đại sĩ liền được nói là đắc gia trì lực của Phật, được các ngài duỗi tay quán đỉnh.
Đại Huệ! Đây tức gọi là Bồ-tát Đại sĩ thọ nhận được hai loại lực gia trì. Do hai loại lực gia trì, liền có thể đến trú xứ chư Phật hiền tiền, hoàn toàn không có pháp khác có thể đắc kiến Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác.
Lại nữa, Đại Huệ! Tam-ma-địa, thần thông, thuyết pháp, của Bồ-tát Đại sĩ đều được chư Phật giai trì bằng hai loại lực gia trì. Đại Huệ! Nếu Bồ-tát Đại sĩ lìa gia trì lực của Phật mà có thể thi triển biện tài ấy, thì kẻ phàm ngu thiển trí cũng sẽ có thể thi triển biện tài kia. Tại sao vậy? Do vì đắc gia trì hoặc bất đắc.
 
Trú xứ nào được lực gia trì của Như Lai phổ cập, thì không chỉ các nhạc khí, khiến ngay cả núi rừng, cây cỏ, cho đến phòng xá cung điện trong thành phố, trú xứ thánh giả, đều có thể phổ xuất nhạc âm, và huống chi người đủ tri giác. Người mù lòa, điếc lác, câm ngọng do đây được trị liệu khuyết tật ấy, hưởng giải thoát an lạc, như thế Đại Huệ, đây tức là đại công đức thù thắng của Như Lai gia trì lực.
Đại Huệ lại thưa:
Bạch Thế Tôn! Vì cớ gì khi Bồ-tát Đại sĩ nhập tam-ma-địa và tam-ma-bát-đế, nơi thù thắng địa được [chư Phật] quán đỉnh, được đức Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác nhiếp thọ gia trì cho họ?
Thế Tôn đáp:
Vì muốn khiến họ lìa ma chướng, lìa nghiệp, lìa các phiền não; vì muốn khiến họ không rơi vào thanh văn địa; vì muốn khiến họ nội tự chứng Như lai địa; vì muốn khiến họ nơi sở đắc tăng trưởng hiện lượng. Do vì nguyên cớ ấy, Đại Huệ! Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác dùng lực gia trì các Bồ-tát Đại sĩ. Đại Huệ! Họ có thể đọa nhập tư duy điên đảo của ngoại đạo, thanh văn, ma quân, mà không thể hiện chứng Vô thượng chánh đẳng giác. Do nguyên nhân này, Đại Huệ! Bồ-tát Đại sĩ được Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác nhiếp thọ.
165. Do nơi bản nguyện của chư Phật,
Nên gia trì lực đắc thanh tịnh,
Nơi tam-ma-địa và quán đỉnh,
Do nó sơ địa đến thập địa.
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ lại thưa Thế Tôn rằng:
“Duyên khởi được Thế Tôn thuyết giảng, y nhân sinh quả, đây không phải kiến lập là tự thể sinh. Nhưng mà ngoại đạo cũng nói do nhân duyên sinh, chẳng hạn họ nói các pháp do thắng tính, tự tại, thần ngã, thời, vi trần làm duyên sinh khởi. Hôm nay, Thế Tôn chỉ thuyết giảng sự sinh khởi của tất cả pháp bằng dị danh nhân duyên, thì làm sao có thể khu biệt được với ngoại đạo trên mặt nghĩa lý? Bạch Thế Tôn! Ngoại đạo thuyết từ hữu thể và vô thể mà sinh, nếu y Thế Tôn, tất cả pháp thực tế từ bản vô mà thành hữu, sinh rồi lại diệt, thưa Thế Tôn, đây tức: Do duyên là vô minh mà có hành, cho đến: già-chết, Thế Tôn thuyết giáo pháp này, thật nói là vô nhân, không nói hữu nhân, do vì Thế Tôn thuyết minh: “Trong khi cái này tồn tại, cái kia tồn tại” . Nếu đây là đồng thời thành duyên mà không phải thứ đệ tương y, tức không hợp lý. Bạch Thế Tôn! Ngoại đạo thuyết thật thắng, chứ không phải Thế Tôn thuyết vậy. Tạo sao vậy? Ngoại đạo thi thiết nhân, không y duyên khởi mà sinh quả, nhưng mà Thế Tôn, nhân và quả tương y được Như Lai thuyết giảng, mà quả vẫn lại tương y với nhân, như thế nhân và duyên hỗ tương liên hệ, do nó triển chuyển liền phạm lỗi nghịch suy vô cùng . Đến hoặc nói: “Trong khi cái này tồn tại, cái kia tồn tại”, thì lại là thuyết vô nhân vậy.
Thế Tôn đáp: Không phải vậy, Đại Huệ! Ta thuyết giảng không phải là duyên khởi của vô nhân, không phải triển chuyển vô cùng ở trong nhân duyên tương liên. Ta thuyết minh: “Trong khi cái này tồn tại, cái kia tồn tại”, do ta thấy ngoại cảnh tự tính vô sở hữu, vì chỉ duy tự tâm; do năng thủ – sở thủ phi chân. Đại Huệ! Nếu có người chấp trước nghĩa năng thủ – sở thủ, kẻ ấy tức không thể liễu tri thế gian duy tâm tự kiến là cảnh. Đại Huệ! Sai lầm của họ là nắm lấy ngoại cảnh thủ chấp là chân thật mà thuyết hữu vô, nhưng điều này không phải là duyên khởi được Ta thuyết giảng.
XLII
Đại Huệ lại thưa rằng:
Bạch Thế Tôn! Há không phải do ngôn thuyết chân thật, nên tồn tại các pháp sao? Nếu không do ngôn thuyết, thưa Thế Tôn, khái niệm các pháp không có sinh khởi. Do đây, thưa Thế Tôn, tất cả pháp mà tồn tại, thực tế do ngôn thuyết chân thật mà thành.
Thế Tôn dạy:
Tuy không tồn tại ngoại cảnh cũng tồn tại ngôn thuyết. Đại Huệ! Như trường hợp rừng thỏ, lông rùa, con của thạch nữ, chúng nơi thế gian hoàn toàn không thể thấy, nhưng vẫn có ngôn thuyết. Đại Huệ! Chúng không hữu không phi hữu mà tồn tại ngôn thuyết. Đại Huệ! Nước ông nói do bởi ngôn thuyết chân thật mới thành hiện tồn ngoại cảnh, điều này phi lý.
Đại Huệ! Không phải tất cả Phật độ có ngôn thuyết, “ngôn thuyết”: Đại Huệ! Nó là giả thi thiết mà thôi. Hoặc có Phật độ, trừng mắt mà hiển ý, hoặc do cử chỉ, hoặc có khi do nhíu màu, nháy mắt, hoặc cười hoặc ngáp, hoặc lại do thanh hầu, ức niệm, cho đến rung mình. Đại Huệ! Thế giới Bất Thuấn, nước Diệu Hương cùng với quốc độ của Phổ Hiền Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác, do trừng mắt mà biểu hiện, các Bồ-tát Đại sĩ hiện chứng vô sinh pháp nhẫn và đa dạng tam-ma-địa thù thắng. Do nguyên cớ này, sự thành lập của tất cả pháp thực tế không quan hệ đối với ngôn thuyết. Thử chiêm nghiệm, Đại Huệ! Ở trong thế giới này, quốc độ của hữu tình như thế, chẳng hạn như kiến, ong các loại, tuy không ngôn thuyết mà vẫn có thể thành sự.
Vì vậy, nói kệ tụng này:
166. Khi đang nơi nhân duyên hòa hiệp,
Phàm ngu biến kế đây là sinh,
Ở đây chưa thể như thật giải,
Lưu chuyển tam hữu – chỗ trú ngụ.
XLIII
Bấy giờ, Bồ-tát Đại sĩ Đại Huệ, lại thưa Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn! Y nơi xứ gì mà họ nói âm thanh thường tồn?
Thế Tôn đáp:
Y mê lầm mà nói. Tuy trí giả cũng thấy có mê lầm hiện, nhưng vị ấy có thể lìa điên đảo. Đại Huệ! Đây như sóng nắng, toàn hỏa luân, phát võng, thành Càn-thát-bà, huyễn, mộng, ảnh trong gương, thần ngã các thứ; trong thế gian hết thảy trí giả đều không phải như vậy, không có bất cứ trí giả nào sinh khởi điên đảo đối với điều ấy, dù nó không phải là hình thái mê mờ không hiển hiện trước mặt họ như thế.
Kẻ mê lầm thì thấy có muôn vàn tướng trạng, nhưng mà vô thường không tương thích với học thuyết này. Tại sao vậy? Do không thể nói nó là hữu thể – là vô thể. Lại nữa, Đại Huệ! Do đâu nơi những mê pháp không thể nói là hữu thể – là vô thể? Do phàm ngu chỉ thủ chấp nhiều dạng cảnh, như nơi biển – thủ chấp sóng, như nước sông Hằng – thấy rằng ngạ quỷ không thấy được. Do nguyên cớ này, Đại Huệ! Mê pháp không thể nói là hữu, nhưng mà như nước có thể hiện tiền đối với chúng khác, nên cũng không thể nói là phi hữu. Vì vậy, đối với trí giả, mê không phải điên đảo, cũng không phải phi điên đảo. Do nguyên nhân ấy, Đại Huệ! Vì đây không sai biệt tính thể, tức là mê pháp, cũng có thể nói tính tướng nó là thường. Đại Huệ! Do vì phân biệt mà thấy đa dạng hình tướng, mê pháp mới thấy là sai dị, không phải mê pháp tự có sai biệt hình tướng, nên có thể nói mê pháp thành là thường tính.
Lại nữa, Đại Huệ! Do đâu mê pháp có thể được chấp thuận là chân thật? Đại Huệ! Do vì các Thánh giả nơi mê pháp không khởi điên đảo tưởng, cũng không khởi phi điên đảo tưởng, lại vô hữu dị . Đại Huệ! Giả sử Thánh giả ở trong các thứ mê pháp có một chút gì nói là tưởng, tức trái ngược với chân thật của thánh trí sở đắc. Nên nếu ở đây có nhậm trì pháp thi thiết gì, đều là phàm ngu vọng thuyết, không phải ngôn thuyết trí giả.
Lại nữa, hoặc do điên đảo, phi điên đảo thấy vì phân biệt mê pháp, thì sẽ thành hai loại chủng tính: (1) Trí giả chủng tính; (2) Phàm ngu thiển trí chủng tính.
Đại Huệ, Trí giả chủng tính phân làm ba: tức Thanh văn, Duyên giác, Phật.
Đại Huệ! Do đâu ngu phu phân biệt nơi mê lầm mà sinh khởi Thanh văn thừa chủng tính? Đại Huệ! Họ kế trước tự tướng, cộng tướng nghĩa, lại còn kiên trì, do đây sinh khởi Thanh văn thừa chủng tính. Đây tức trạng thái do mê sinh khởi Thanh văn thừa chủng tính.
Đại Huệ! Do đâu ngay khi phân biệt nơi mê lầm thì sinh khởi Duyên giác thừa chủng tính? Đại Huệ! Ngày khi ở trong mê pháp, kế trước tự tướng, cộng tướng nghĩa, có thể khiến người ấy lìa nơi thế duyên, do đây sinh khởi Duyên giác thừa chủng tính.
Đại Huệ! Vì sao ngay khi do trí phân biệt mê pháp mà sinh khởi Phật thừa chủng tính? Ngay khi liễu tri thế gian vô hữu mà duy tự tâm, đối với ngoại cảnh phân biệt khởi hữu và phi hữu đã bị đình chỉ tịch diệt, đây liền sinh khởi Phật thừa chủng tính.
Đại Huệ! Đây tức chủng tính, đây tức cái biểu thị của chủng tính.
Lại nữa, Đại Huệ! Khi phàm ngu đối với mê pháp khởi phân biệt, thành đa dạng ngoại cảnh hiển hiện, quyết định như thế, quyết định bất dị, liền khởi lưu chuyển thừa chủng tính. Do đây, Đại Huệ! Phàm ngu phân biệt mê pháp mà thành đa dạng tính tướng, nên mê pháp phi chân thật – phi bất chân. Do vậy, Đại Huệ! Mê pháp nhập trí giả phân biệt, liền chuyển thành như như, do đây là chuyển y của tâm-ý-thức, biến kế, tập khí, ba tự tính, năm pháp. Đây có thể thuyết là như như tức là phân lìa thúc phược. Đại Huệ, Ta nay lại minh liễu hiển thị nghĩa được thuyết minh từ cú này, đây tức: người lìa phân biệt, tức là buông bỏ tất cả phân biệt. Thuyết minh điều này, đến đây là chấm dứt.
Đại Huệ thưa: bạch Thế Tôn! Mê pháp là tồn tại – phi tồn tại?
Thế Tôn đáp: Như huyễn, Đại Huệ! Vì mê pháp không có hình thái chấp trước, nếu chấp trước là hữu, tức bất khả chuyển, các duyên khởi giống như được ngoại đạo thuyết minh, đủ sinh giả nghĩa.
Đại Huệ thưa: Bạch Thế Tôn! Nếu mê pháp như huyễn, đây sẽ có thể thành nhân của một sai lầm khác.
Thế Tôn dạy:
Không phải vậy, Đại Huệ! Huyễn sự không thể thành nhân của mê pháp, do nó không có lực sinh khởi tà kiến và khuyết điểm, thế nên Đại Huệ, huyễn sự tức không sinh tà kiến và khuyết điểm.
Lại nữa Đại Huệ! Huyễn sự không tự phân biệt, từ chú ngữ khác mà đắc sinh khởi, vì vậy không do tập khí của tà kiến và khuyết điểm mà sinh khởi, do vậy mà không sai lầm. Đây chỉ là phàm ngu tâm duy trì kiến mê loạn, mà thánh giả thì không liên hệ với điều đây.
Ở đây liền nói kệ tụng:
 
168. Trí giả không sở kiến nơi mê,
Ở bên trong ấy không thật hữu,
Nếu ở trong đó chân thật hữu,
Thì mê cũng sẽ thành chân thật.
169. Nếu vậy lìa nơi các mê pháp,
Mà hiện tồn tự tướng sinh khởi,
Đây tức y nguyên mê pháp kia,
Như là mắt nhặm chưa thanh tịnh,
XLIV
Lại nữa, Đại Huệ! Huyễn, không phải là không tồn tại chân thật, có thể thấy các pháp và huyễn đồng tính thể, tức nói tất cả pháp đủ tự tính huyễn.
Đại Huệ thưa: Thế Tôn, thuyết tất cả pháp đủ tự tính huyễn, là nhân bởi huyễn mà biến kế, lại do chấp trước đa dạng tự tướng chăng, ức hoặc thuyết nó là bất chân thật biến kế của tự tướng?
Nếu nói tất pháp đầy đủ tự tính của huyễn, là nhân bởi huyễn mà bị biến kế, lại chấp trước đa dạng tự tướng, thưa Thế Tôn, tự tính của các pháp tức không tương thích với cụ huyễn. Tại sao vậy? Do bởi đa dạng dấu hiệu do kiến tướng, không phải do nơi nhân. Hoặc nó tuy hiển hiện mà vô nhân, đa dạng dấu hiệu đều là thi thiết, tức nó có thể thành như huyễn. Vì nguyên cớ này, bạch Thế Tôn! Tự tính của các pháp cụ huyễn, nên không phải nhân nơi tương tự của hai thứ là các pháp và như huyễn, đều do biến kế, lại do chấp trước đa dạng dấu hiệu.
Thế Tôn dạy: không phải vậy, Đại Huệ! Đây không phải nhân nơi nó mà đều bị biến kế, đều chấp trước đa dạng dấu hiệu mà nói các pháp là huyễn, thuyết tất cả pháp như huyễn, do nó phi chân thật, lại như lóe chớp, thấy liền vụt biến. Đại Huệ! Lóe chớp xuất hiện rồi mau chóng tan biến, tức giống như hiện hiện thuộc về phàm ngu.
Đại Huệ! Ở đây cũng vậy, tất cả pháp thi thiết là tự tướng – cộng tướng, thực tế y nơi tự phân biệt, khi đang tri nhận vô sở hữu, thì đối với ngoại cảnh được biến kế và chấp trước hình thái, thảy đều đình chỉ.
Đây liền nói:
170. Do hữu tướng như huyễn phi hư,
Các pháp như thế nói chân thật,
Nhưng nó vô thật như loé chớp,
Nên nói các pháp thảy như huyễn.
XLV
Thêm nữa, Đại Huệ thưa: Nếu y Thế Tôn, tất cả pháp vô sinh, lại còn như huyễn, nhưng mà, thưa Thế Tôn, hai điều này há không phải mâu thuẫn sao? Phật nói tất cả pháp vô sinh do tự tính của nó là như huyễn .
Thế Tôn đáp:
Thuyết tất cả pháp vô sinh, tức chánh nhân của nói có tự tính huyễn, Ta thuyết minh trước sau không mâu thuẫn. Tại sao vậy? Do vì sinh phi sinh. Trong khi đang tri nhận thế gian hiển hiện hiện tiền trước chúng ta không ngoài tự tâm; trong khi thuyết tất cả ngoại cảnh hoặc hữu thể hoặc vô thể, liền có thể thấy nó vô tính, lại vốn bất sinh. Do nguyên cớ ấy, Ta thuyết minh trước sau không mâu thuẫn.
 
Nhưng mà, Đại Huệ! Vì để loại trừ luận thuyết ngoại đạo chủ trương, Như Lai mới thuyết giảng như huyễn, lại còn vô sinh. Ngoại đạo tích tập các hoặc loạn mà thành sinh nghĩa, do hữu do vô mà thuyết về sinh của tất cả pháp, nhưng không biết do tự phân biệt mà thành chấp trước hình thái. Như thế thực tế là sinh duyên.
Đại Huệ! Chớ sinh khiếp sợ đối với giáo thuyết của Ta , ở trong quang minh ấy, danh từ “vô sinh” này, cần thông đạt như thế.
Ta thuyết các pháp hữu thể, vì muốn đắc thành thuyết lưu chuyển, do bởi kẻ đoạn kiến nói: “hết thảy vô sở hữu” ; Lại muốn khiến cho đệ tử Ta chấp nhận thuyết sinh xứ của chủng chủng nghiệp. Do chấp nhận “hữu thể”, tức chấp nhận lưu chuyển.
Đại Huệ! Nói tính tướng của tất cả pháp đầy đủ tự tính huyễn, nghĩa là muốn phàm phu và kẻ thiển trí được khiển trừ khái niệm tự tính tất cả pháp. Họ bị điên đảo tính tướng kiến, chưa liễu tri nghĩa của thế gian chỉ duy tự tâm, do đây kế trước hiện hữu tác giả, do nhân sinh, thành tự tướng. Vì khiển trừ kiến ấy, nên Ta nói tất cả pháp ở trong tự tính của nó, tính tướng thực tế như huyễn, như mộng. Họ chấp trước nơi điên đảo kiến, vì vậy tự lừa dối mình, lừa dối người khác, vì không thể như thật kiến tất cả pháp và thấy nó một cách chân thật. Đại Huệ! Nếu thấy tất cả pháp mà có thể như thật kiến nó chân thật, tức có thể ngộ nhập duy tâm tự hiển hiện.
Vì thế, nói kệ tụng này:
171. Ở trong vô sinh bác bỏ nhân,
Vì thành lưu chuyển lập hữu cảnh,
Do thấy tất cả pháp như huyễn,
Do đó không phân biệt nơi tướng.
XLVI
Lại nữa, Đại Huệ, Ta sẽ thuyết minh tính tướng của danh thân, cú thân, văn thân. Do Bồ-tát Đại sĩ nếu có thể liễu tri danh thân, cú thân, văn thân, tức có thể tương ưng với biểu nghĩa ấy, mau chóng chứng nghiệm Vô thượng Chánh đẳng giác, lại có thể lấy đây khai ngộ tất cả hữu tình.
Đại Huệ, danh thân: nghĩa là sự vật y nơi danh từ mà có sở đắc, thân tức là sự vật ấy ; thân của sự vật, sắc thể là đồng nghĩa. Đại Huệ! Đây là danh thân.
Cú thân: cái sở biểu nghĩa ấy, quyết trạch thật vật cứu cánh nghĩa. Quyết trạch, quyết định, tri nhận là đồng nghĩa. Đây là thuyết minh của Ta về cú thân.
Cho đến văn thân: nghĩa là do nó mà hiển thị danh và cú. Nó là phù hiệu. Văn tự, phù hiệu, tính tướng, tri nhận, thi thiết là đồng nghĩa.
Lại nữa, Đại Huệ! Cú thân: nghĩa là ở trong câu có thể biểu đạt hoàn toàn nhất nghĩa. Đến như danh từ: Đại Huệ! tức do biệt biệt các mẫu tự sai biệt làm tự tính, như từ a đến ha. Lại nữa, Đại Huệ! Văn thân: tức như trường âm, đoản âm các thứ.
Lại nữa, Đại Huệ! Quan hệ với cú thân, ý nghĩa của nó có thể thu được từ dấu chân bên đường, như dấu chân voi, ngựa, người, hươu, bò, trâu, dê, cừu các loại. Cho đến danh thân, Đại Huệ! Tức như uẩn phi sắc, chỉ do danh từ tác thành hiển thị, vì vậy chỉ do danh từ mà thành. Còn văn thân, thì do chủng chủng tự tướng mà thành.
Đại Huệ! Đây là nghĩa danh thân, cú thân, văn thân, ông cần thấu triệt danh tướng các điều này.

~ Còn tiếp

DANH MỤC THỦ BẢN SANSKRIT-TIBETAN

THAM KHẢO ĐỐI CHIẾU DỊCH

BẢN SANSKRIT:

*Để bản:

Laṅkāvatāra-sūtra, ed. Bunyiu Nanjio, 1923; Đối chiếu với: Saddharmalaṅkāvatārasūtram, ed. by P.L. Vaidya, Darbhanga: The Mithila Institute, 1963, (Buddhist Sanskrit Texts, 3).

*Bản tham khảo phụ:

  1. Laṅkāvatāra-sūtra, chap. 1, ed. S. Wakai, 1931
  2. Laṅkāvatāra-sūtra, index, Daisetz Teitaro Suzuki, 1934
  3. Laṅkāvatāra-sūtra, corrections, Kōsai Yasui, 1976

TẠNG DỊCH:

  1. laṅ kar gśegs pa rin po che’i mdo las saṅs rgyas thams cad kyi gsuṅ gi sñiṅ po źes bya ba’i le’u | (192a1) || bam po daṅ po ||

2. (56a1) rgya gar skad du | ārya laṅ ka a ba tā ra ma hā yā na sū tra | bod skad du | ’phags pa laṅ kar gśegs pa’i theg pa chen po’i mdo | bam po daṅ po ||