NGHIÊN CỨU TẬP DỊ MÔN TÚC LUẬN

Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. Trong phần cuối căn kiền-độ của Bát-kiền-độ luận có phụ chú như sau: “Tám kiền-độ là thể vậy, biệt hữu có lục túc”[5]. Câu-xá luận ký của Phổ Quang nói: “Trước có lục túc, nghĩa môn hạn chế; một luận Phát trí, pháp môn rộng lớn”[6]. Nhưng xét kỹ mà nói việc gọi “thân” và “túc”, thực tế do luận sư Tì-bà-sa thuyết minh có ý thiên trọng Phát trí luận. Hệ thống A-tì-đạt-ma thuộc Thượng tọa bộ, như Xá-lợi-phất A-tì-đàm, phân làm bốn phần, mà kinh Tì-ni mẫu v.v… phân thành năm loại. Sáu luận được truyền thừa bởi hai truyền thống Bắc – Nam, đại thể lấy bốn phần hoặc năm loại, mà phân biệt thành một tổ chức độc lập, cho nên Long Thọ vẫn gọi là “lục phần”. Sáu phần là sáu bộ phận của A-tì-đạt-ma, vốn không phụ thuộc vào ý nghĩa của Phát trí luận. Tuy hệ thống tổ chức của Phát trí luận phát triển cao độ, nhưng sáu luận vẫn không mất đi sắc thái riêng biệt. Luận sư Tì-bà-sa đặc trọng Phát trí luận, lấy luận này thuyết minh chính yếu, giải thích hội thông sáu luận. Sáu phần vì vậy hình thành sự phụ thuộc vào Phát trí luận. Như vậy là khái lược vì sao gọi luận Phát trí là “thân”, sáu phần là “túc”.

Pháp thoại: Tám loại Bố Thí

1. Thí vì người đến xin; 2. Thí vì kinh sợ; 3. Thí báo ân; 4. Thí vì cầu báo đáp; 5. Thí theo tập tục, theo gia pháp của tổ tiên; 6. Thí cầu danh; 7. Thí cầu sinh thiên; 8. Thí vì trang nghiêm tâm, vì tư trợ tâm, vì tư lương Du-già, vì đắc mục đích cứu cánh thông huệ, bồ-đề, niết-bàn.

Thành Duy thức giảng luận (Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra) – MP3 – Thích Phước Nguyên

Bộ luận Thành Duy Thức này là bộ luận Cương yếu của môn Duy thức học, trình bày lý Duy thức theo luận pháp Nhân minh với những từ ngữ mới lạ, giản ước, nghĩa lý khúc chiết, ý kiến của các Luận sư đan xen chằng chịt, hỏi đáp không phân ranh giới rõ ràng, có khi câu hỏi ẩn trong câu đáp, dùng nhiều đại danh từ bỉ, thử, do dó thật khó lòng hiểu cho chu đáo. Đúng như lời tán thán của luận Duy thức xu yếu: “Vạn tượng hàm ư nhất tự, thiên huấn giảng ư nhất ngôn

DƯỢC SƯ SÁM VĂN

Trộm nghĩ:
Các hành vô thường, thảy là pháp tan rã; vạn hữu đảo điên, đều do gốc khổ sầu.
Cảnh đời rực lửa, rõ biết là dịch dời thay đổi.
Cỏ khô trôi dạt giữa dòng, rơm tranh nung nấu lò hồng, tuồng sinh diệt đổi thay sao quá lẹ!

GIỚI THIỆU THÁNH NHẬP LĂNG GIÀ KINH

“Thánh pháp Nhập Lăng-già” – Phạn bản tân dịch, là bản kinh trọng yếu của Phật giáo Bắc truyền, nguyên bản Sanskrit lưu hành hiện có mười chương, thông qua mỗi chương là những đề tài giáo nghĩa “nan tư nghị” được đức Thích Tôn thuyết giảng chi tiết cho pháp hội Lăng-già. Việt dịch từ Phạn bản, thực hiện bởi Thích Phước Nguyên, sách gồm 2 tập: Chánh văn và Tổng mục lục, ấn bản bìa cứng dày trên 800 trang, phần phụ lục được soạn tập riêng bổ sung cho tác phẩm.

A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN TIẾT 2 – TT. THÍCH PHƯỚC VIÊN dịch & chú

Năm uẩn -đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn; chúng thâu nhiếp tất cả các pháp hữu vi; hữu vi là pháp được tạo nên do bởi nhiều yếu tố tập hợp lại. Không một pháp nào sinh khởi từ một yếu tố duy nhất. Vì cùng tính chất với các pháp kia (hiện tại ), (các pháp) vị lai (cũng gọi là hữu vi), không có gì trở ngại.