A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN TIẾT 2 – TT. THÍCH PHƯỚC VIÊN dịch & chú

A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN TIẾT 2

阿  毘  達  磨  俱  舍  論

(Abhidharmakośabhāṣyam) 

  Thượng tọa Thích Phước Viên

(Phật học viện Hải Đức Nha Trang)

dịch & chú

(tiếp theo)

II. PHÁP THƯỜNG NGHIỆM.

A. Tụng văn.

    Hán văn:  

又諸有為法       謂色等五蘊

亦世路言依       有離有事等

有漏名取蘊       亦說為有諍

及苦集世間       見處三有等                                                                

Phiên âm.

Hựu chư hữu vi pháp              Vị sắc đẳng ngũ uẩn

Diệc thế lộ, ngôn y,                 Hữu ly, hữu sự đẳng.

Hữu lậu danh thủ uẩn             Diệc thuyết vi hữu tránh

Cập khổ tập thế gian              Kiến xứ tam hữu đẳng.  

Việt dịch.

Lại nữa, các pháp hữu vi                  Là năm uẩn, sắc, thọ,. v. v. . .

Cũng gọi là thế lộ, ngôn y,              Là hữu ly, hữu sự v. v. . .

Hữu lậu là thủ uẩn                  Cũng gọi là hữu tránh,

Là khổ, tập, thế gian,              Kiến, xứ, và tam hữu, v. v. . .

B. Luận thích

    1. Hữu vi

    a. Định nghĩa

    Tụng văn nói, “trừ đạo đế, hữu vi là hữu lậu”. Các pháp hữu vi nầy là những gì?   

    /7a-b/ Lại nữa, các pháp hữu vi, là năm uẩn, sắc, thọ, . v. v. .

    Năm uẩn -đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn; chúng thâu nhiếp tất cả các pháp hữu vi; hữu vi là pháp được tạo nên do bởi nhiều yếu tố tập hợp lại. Không một pháp nào sinh khởi từ một yếu tố duy nhất. Vì cùng tính chất với các pháp kia (hiện tại ), (các pháp) vị lai (cũng gọi là hữu vi), không có gì trở ngại. Như sữa, như cũi56 chẳng hạn.

   b. Đồng nghĩa

    /7c-d/ Cũng gọi là thế lộ, ngôn y, Là hữu ly, hữu sự, v. v. .

Các pháp hữu vi nầy cũng gọi là,

    i. Thế lộ57: vì chúng đã đi, đang đi và sẽ đi; hoặc vì chúng bị vô thường nuốt chững.

    ii. Ngôn y: ngôn58 là ngôn ngữ; y59 chỉ cho danh và nghĩa . Như vậy, ngôn y thâu nhiếp đầy đủ tất cả các pháp hữu vi. Nếu không như vậy, ắt trái với những điều mà Phẩm loại túc luận nói; Luận đó nói rằng, ngôn y được thâu nhiếp trong mười tám giới.

    iii. Hữu ly: ly60 là vĩnh ly, tức là niết bàn. Tất cả các pháp hữu vi đều có tính chất vĩnh ly ấy.

    iv. Hữu sự61:do tính chất có nguyên nhân nên nói là hữu sự. Sự có nghĩa là nhơn. Trên đây là những điều do các luận sư Tỳ bà sa nói. Đó là những tên gọi khác nhau của pháp hữu vi.

 

2. Hữu lậu

Lại nữa, trong các pháp hữu vi nầy,

    a. Thủ uẩn

    /8a/ Hữu lậu là thủ uẩn

    Ở đây, cái gì được thiết lập? – Đó là các thủ uẩn62, cũng gọi là uẩn. Hoặc chỉ gọi uẩn, không gọi thủ uẩn; đó là các hành vô lậu63. Các thủ chính là phiền não. Hoặc uẩn từ thủ phát sinh nên gọi là thủ uẩn. Như lửa sinh ra từ trấu, từ rơm nên gọi là lửa trấu, lửa rơm. Hoặc uẩn thuộc thủ nên nói là thủ uẩn. Như bề tôi trực thuộc Vua nên nói là bề tôi của Vua. Hoặc uẩn sinh thủ nên nói là thủ uẩn. Như cây sinh ra hoa, quả nên nói là cây hoa, cây ăn trái.

    b. Hữu tránh

     Các pháp hữu lậu nầy,

     /8b/ Cũng gọi là hữu tránh

    Tránh hay hữu tránh chỉ cho phiền não64; vì chúng quấy nhiễu các thiện phẩm, gây tổn hại cho mình, cho người khác và vì phiền não ẩn tàng, phát triển ở trong đó65 nên gọi là hữu tránh. Cũng giống như hữu lậu vậy.

    c. và các tên gọi khác

         Lại nữa, nó cũng được gọi

     /8c-d/ Là khổ, tập, thế gian, kiến, xứ và tam hữu . v. v. . . .

    *Vì trái nghịch với ý của các bậc thánh nên nói là khổ.

    *Vì rước lấy các khổ nên nói là tập.

    *Vì bị huỷ hoại, vì có thể đối trị nên nói là thế gian66.

    *Vì các kiến trú ở trong đó mà sinh trưởng nên nói là kiến xứ67

    *Vì là nhơn của hữu, sở y của hữu, nhiếp thuộc tam hữu nên nói là tam hữu68.

Đó là các tên gọi khác nhau của hữu lậu.

 

III. PHÂN TÍCH UẨN.

A. Tụng văn

     

Hán văn

色者唯五根             五境及無表

彼識依淨色              名眼等五根

 

色二或二十          聲唯有八種

味六香四種         觸十一為性                                                                                                       

亂心無心等               隨流淨不淨

大種所造性              由此說無表

 

大種謂四界                 即地水火風

能成持等業               堅濕煖動性

 

地謂顯形色                 隨世想立名

水火亦復然              風即界亦爾

 

            

Phiên âm

 

Sắc giả duy ngũ căn                              Ngũ cảnh cập vô biểu

Bỉ thức y tịnh sắc                                  Danh nhãn đẳng ngũ căn

 

Sắc nhị hoặc nhị thập                            Thanh duy hữu bát chủng

Vị lục hương tứ chủng                           Xúc thập nhất vi tánh                    

    

Loạn tâm vô tâm đẳng                          Tuỳ lưu tịnh bất tịnh

Đại chủng sở tạo tánh                            Do thử thuyết vô biểu   

 

Đại chủng vị tứ giới                               Tức địa thuỷ hoả phong

Năng thành trì đẳng nghiệp                    Kiên thấp noãn động tánh

 

Địa vị hiển hình sắc                               Tuỳ thế tưởng lập danh

Thuỷ hoả diệc phục nhiên                      Phong tức giới diệc nhĩ

 

Việt dịch

 

Sắc ấy là năm căn                                 Năm cảnh và vô biểu

Tịnh sắc thức kia nương                        Là năm căn nhãn nhĩ, . . .

 

Sắc hai hoặc hai mươi                           Thanh chỉ có tám loại

Vị sáu, hương có bốn                            Xúc mười một tự tánh         

 

Loạn tâm và vô tâm,                             Tuỳ lưu; tịnh, bất tịnh

Được tạo thành bởi các đại chủng                        Do  đó  nói  là  vô  biểu

 

Đại chủng là bốn giới                             Tức địa, thuỷ, hoả, phong

Tạo các nghiệp trì, thục . . .                   Tánh cứng, ước, ấm, động

 

Địa là màu sắc và hình tướng                                Theo nhận hức của thế gian mà dặt tên

Thủy, hoả cũng lại như vậy                    Phong tức giới, cũng vậy

B. Luận thích

1. Sắc uẩn           

    i. Tổng lược

Như trên đã nói “năm uẩn, sắc. . . gọi là pháp hữu vi. Sắc uẩn là gì?

(9a-b) Sắc ấy là năm căn        Năm cảnh và vô biểu

Giải rằng: Năm căn69: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn. Năm cảnh70: tức cảnh giới của năm căn, nhãn . . . . ; đó là sắc, thanh, hương, vị và xúc. Vô biểu: là vô biểu sắc. Chỉ căn cứ vào số lượng nầy để thành lập tên gọi sắc uẩn.

Hành tướng của năm căn:

    ii. Năm căn

(9c-d) Tịnh sắc thức kia nương          Là năm căn nhãn, nhĩ . .      

Giải rằng:  chữ “kia” chỉ cho năm cảnh được nói ở trước; chữ “thức” chỉ cho sự nhận biết về sắc, thanh, hương, vị và xúc. Năm loại tịnh sắc71, sở y của thức, theo thứ lớp, đó là năm căn nhãn, nhĩ,. . .   . Như đức Thế Tôn dạy -Bí sô nên biết, nhãn là nội xứ tứ đại sở tạo, lấy tịnh sắc làm tánh. . .  . Lại nữa, chữ “kia”chỉ cho năm căn nhãn, nhĩ. . . được nói ở trước; chữ”thức” chỉ cho năm thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân. Sở y của thức, năm loại tịnh sắc; đó là nhãn căn . . . là nghĩa sở y chỉ của các thức nhãn,. . .  Như vậy, phù hợp với Phẩm loại túc luận nói rằng, thế nào gọi là nhãn căn? -là sở y của nhãn thức, lấy tịnh sắc làm tánh . . .

Đã nói xong năm căn, tiếp đến:

    iii. Năm cảnh

    a. Sắc

    (10a) Sắc hai,

Tức sắc có hai loại, đó là -1. hiển sắc72. 2. hình sắc73. Hiển sắc có bốn -xanh, vàng, đỏ, trắng. Các hiển sắc khác chỉ là sự phối hợp của bốn sắc nầy. Hình sắc có tám loại -đầu tiên là dài, cuối cùng là không bằng phẳng.

(10a) Hoặc hai mươi

Nói sắc có 20 loại tức cũng từ hai loại sắc xứ nầy chia làm hai mươi loại vậy. Đó là -xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, phẳng, không bằng phẳng, mây, khói, bụi, mù, bóng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng và tối. Có các Luận sư khác nói rắng, còn có không nhất hiển sắc74, tức 21 loại.

Trong đó, chánh75 là hình thể bằng phẳng; bất chánh là hình thể không bằng phẳng. Hơi nước bốc lên gọi là 76. Ánh mặt trời gọi là quang77. Ánh mặt trăng, sao, lửa, bảo châu, điện. . . gọi là minh78. Ngăn che ánh mặt trời, mặt trăng, xuất hiện ở trong đó gọi là ảnh79; ngược lại gọi là tối. Các sắc còn lại dễ hiểu, không cần phải giải thích.

Hoặc có các loại sắc xứ chỉ có màu sắc, không có hình thể. Đó là xanh, vàng, đỏ, trắng, bóng, ánh mặt trời, ánh mặt trăng, tối. Hoặc có sắc xứ chỉ có hình thể, không có màu sắc. Đó là các sắc dài, ngắn, một phần thân biểu nghiệp tánh,. . . Hoặc có sắc xứ có cả màu sắc và hình thể. Đó là các sắc còn lại.

Có Luận sư nói: chỉ có ánh mặt trời, ánh mặt trăng mới là màu sắc; vì theo thế gian thì các sắc xanh, vàng. . . chỉ là cách nhìn từ các hình sắc dài, ngắn. . . mà ra.

Tại sao, trong một cực vi lại có cả hiển và hình?80   Vì từ đó có sự tri nhận cả hai. Chữ 81 được nói ở trên có nghĩa là có tri nhận, tức chỉ cho nhận thức, chẳng phải là có cảnh tức là đối tượng.

Nếu vậy, thì trong thân, lẽ ra cũng nên có sự tri nhận về hiển sắc.

Đã nói xong sắc xứ. Tiếp đến nói về thanh xứ.

    b. Thanh 

(10b)  thanh chỉ có tám loại.  

Đó là các thanh hữu chấp thọ82, vô chấp thọ, có nguồn gốc từ đại chủng; thanh hữu tình danh83 và phi hữu tình danh, cả thảy là bốn. Trong đó, lại có khả ý, bất khả ý, thành ra tám loại . Thanh chấp thọ có nguồn gốc từ đại chủng, chỉ cho các âm thanh phát ra từ lời nói hay từ bàn tay. Thanh phi chấp thọ có nguồn gốc từ đại chủng, chỉ cho các âm thanh phát ra từ gió, rừng, sông,. . . Thanh hữu tình danh, chỉ cho ngữ biểu nghiệp. Thanh phi hữu tình danh, chỉ cho các loại âm thanh khác.

Có thuyết: có loại âm thanh thông cả hữu chấp thọ và phi chấp thọ có nguồn gốc từ đại chủng; như những âm thanh phát ra từ sự phối hợp của bàn tay và cái trống,. . .

 Cũng như ở trên, Bà-sa không thừa nhận một cực vi hiển sắc lại có hai tổ hợp tứ đại; âm thanh cũng nên như vậy.  

 Nói xong thanh xứ; tiếp đến nói về vị xứ

    c. Vị

    (10c)  Vị sáu.            

    Vị xứ có sáu loại; đó là, ngọt, chua, mặn, cay, đắng, nhạt.

    d. Hương

    (10c)  Hương có bốn.

    Hương xứ có bốn loại: hương thơm, hương thối, hương bình đẳng và hương không bình đẳng. Trong Luận nầy nói chỉ có ba loại: hương thơm, hương thối và hương bình đẳng.

    e. Xúc xứ

(10d)  Xúc mười một tự tánh.

Xúc xứ có mười một loaị: bốn đại chủng, tánh trơn, tánh nhám, tánh nặng, tánh nhẹ và lạnh, đói, khát. Đại chủng sẽ được nói sau; ở đây, mềm dịu gọi là trơn. Thô cứng gọi là nhám. Có thể cân gọi là nặng; ngược lai gọi là nhẹ. Muốn ấm gọi là lạnh. Muốn ăn gọi là đói. Muốn uống gọi là khát. Ba xúc sau cùng căn cứ vào nhơn mà thành lập tên gọi ở  quả cho nên nói như vậy. Như có bài tụng rằng:

Vui thay, sự xuất hiện của đức Phật

Vui thay, sự diễn thuyết Chánh Pháp

Vui thay, sự hoà hợp của Chúng Tăng

Vui thay, cùng nhau tu tập tinh tấn

Ở cõi Sắc giới, không có các xúc đói, khát; nhưng có các xúc khác. Cũng ở cõi đó, y phục riêng từng cái, không thể cân được; gom lại thì cân được. Các xúc lạnh, nóng không gây tổn hại, chỉ có hữu ích. Đó là theo truyền thuyết của các luận sư Tỳ-bà-sa.

Trên đây, nói có nhiều loại sắc xứ. Trong đó, có lúc, nhãn thức duyên với một loại để sanh khởi; nghĩa là lúc đó, nhãn thức phân biệt, nhận thức riêng lẻ. Có lúc, nhãn thức duyên với nhiều loại để sanh khởi; nghĩa là lúc đó nhãn thức phân biệt một cách tổng quát. Chẳng hạn, từ xa quán sát một đoàn quân, đống bảo châu, vô lượng màu sắc, hình tướng núi rừng, . . . 

Nên biết rằng, các thức nhĩ, tỷ . . . cũng như vậy.

Có các Luận sư nói: thân thức duyên tối đa là năm xúc để sanh khởi. Đó là bốn đại chủng và với một trong các xúc trơn, nhám . . . Có thuyết khác lại nói: duyên với toàn bộ mười một xúc84 để sanh khởi.

Như vậy, năm thức tổng duyên với cảnh tướng thì lẽ ra, thân thức thủ đắc cọng tướng của đối tượng85, chứ không thể thủ đắc tự tướng của đối tượng được.

    Căn cứ vào tự tướng của môi trường (xứ) để chấp nhận rằng, năm thức thân thủ đắc tự tướng của đối tượng, chẳng phải căn cứ vào tự tướng của các vật thể86. Vậy chẳng có lỗi gì.

Suy nghĩ, phân biệt khi hai đối tượng cùng đến một lúc với hai căn thân và thiệt, thức nào khởi lên trước. Theo đối tượng mạnh mẽ, thức tương ứng, khởi lên trước. Nếu đối tượng quân bình, thiệt thức khởi lên trước, vì sự ăn uống duy trì tính cách tương tục của sinh mạng.

 Đã nói xong đối tượng của năm căn và sự nắm bắt chúng. Tiếp đến nói về hành tướng của vô biểu sắc.

  iv. Vô biểu

  (11) Loạn tâm và vô tâm,. v. v.                 Tuỳ lưu; tịnh, bất tịnh

         Được tạo thành bởi các đại chủng.    Do đó, nói là vô biểu87

  Loạn tâm: chỉ cho tâm nầy (thử tâm) và tâm khác (dư tâm)88Vô tâm89: chỉ cho các tâm khi nhập vô tưởng định, diệt tận định. Chữ . v. v. là hiển thị bất loạn tâm và hữu tâm. Tuỳ lưu90 tức tương tợ, tương tục91Tịnh, bất tịnh chính là thiện và bất thiện. Vì để phân biệt với tương tợ, tương tục của các đắc nên lại nói, được tạo thành bởi các đại chủng. Luận sư Tỳ-bà-sa nói: tạo cùng nghĩa với nhơn; nghĩa là nó tác thành năm loại nhơn92 – sanh, dưỡng, . . .  Đó là phần trình bày về nguyên nhơn lập danh cho nên nói là do đó . Vô biểu, tuy lấy sắc nghiệp làm tánh như hữu biểu, nhưng nó không hiện bày ra ngoài khiến cho người ta nhìn thấy nên nói là vô biểu. Chữ nói, nhằm hiển bày rằng, đây là quan điểm của các luận sư Tỳ-bà-sa.

Tóm lại, vô biểu là sắc hoặc thiện, hoặc bất thiện sinh ra từ biểu nghiệp, hay từ định.

 Nói rằng, được tạo thành bởi các đại chủng. Vậy, đại chủng là gì?

  v. Đại chủng

  a. Bốn nguyên tố                   

  (12a-b) Đại chủng là bốn giới tức địa, thuỷ, hoả, phong            

   Bốn yếu tố nầy do có khả năng duy trì đặc tính riêng của nó; đồng thời, duy trì các sắc sở tạo93 nên gọi là giới94. Bốn giới nầy cũng gọi là bốn đại chủng95 vì tự thể của nó là sở y của tất cả các sắc khác; vì thể của nó là rất lớn. Hoặc vì ở trong địa v. v. . . , có các khối lượng tăng thạnh, hình tướng to lớn. Hoặc vì, nó phát sinh các tác dụng to lớn.

    b. Chức năng

    Chức năng của nó là gì; nói cách khác, bốn đại chủng nầy có thể tác thành những nghiệp gì?

    (12c) Tạo các nghiệp trì, thục . v. v. .

    Theo thứ tự, chúng tác thành bốn nghiệp (chức năng): trì, nhiếp, thục, trưởng. Nghiệp của địa giới là năng trì; của thuỷ giới là năng nhiếp; của hoả giới là năng thục; của phong giới là năng trưởng. Trưởng có nghĩa là tăng thạnh hoặc lưu dẫn.

    c. Tự thể

    Nghiệp dụng là vậy, tự thể thế nào?

    (12d) Tánh cứng, ướt, ấm, động

    Theo thứ lớp, tánh của chúng là, cứng, ướt, ấm và động. Tánh của địa giới là cứng; của thuỷ giới là ướt, của hoả giới là ấm và của phong giới là động. Do những tính chất đó, chúng có thể khiến các sắc sở tạo tương tục, sinh khởi đến các phương khác. Như ngọn đèn bị gió thổi gọi là động. Phẩm loại túc luận và Khế kinh nói: thế nào gọi là phong giới? Đó là lấy sự lay động làm tánh, như khinh (trạng thái nhẹ) v. v. Lại nói, tánh của khinh là sở tạo sắc. Nói khinh là ý muốn nêu nghiệp để hiện bày thể.

Do vậy, phong giới lấy sự lay động làm tánh.

d. Quy ước

 Sự khác nhau giữa địa và địa giới như thế nào?

 (13a-b) Địa là màu sắc và hình tướng    Theo nhận thức của thế gian mà đặt tên

Thật vậy, Địa là màu sắc và hình tướng, lấy sắc xứ làm thể; đó là theo nhận thức của thế gian mà giả lập tên gọi. Do vì, thế gian khi chỉ cho nhau về địa, đều lấy màu sắc và hình thể để nói.

Giống như đất,

    (13c) Nước và lửa cũng lại như vậy

    Và ,

    (13d) Phong tức giới, cũng vậy

Nói phong tức giới có nghĩa là thế gian căn cứ vào tính chất lay động mà gọi là phong. Hoặc giống như địa . v. v. . . , theo nhận thức của thế gian mà gọi tên thì, phong cũng có màu sắc và hình tướng; cho nên nói như vậy. Như gió lam96, gió xoáy97 (tròn). Đây là dùng màu sắc để biểu thị phong.

 vi. Khái niệm sắc

Vì lý do gì mà uẩn có vô biểu là cuối cùng được gọi là sắc? Vì có tính chất biến hoại98. Như đức Thế Tôn dạy: Bí sô nên biết, vì có tính biến hoại cho nên gọi là sắc thủ uẩn. Cái gì làm cho nó biến hoại? Do bàn tay tiếp xúc khiến sắc sinh biến hoại . v. v. . .    Biến hoại có nghĩa là não hoại99. Cho nên trong Phẩm Nghĩa100 nói: 

Người chạy theo các dục                 Thường khởi lên hy vọng

Nếu không được thoả mãn              Ắt não hoại như bị trúng tên

Như thế nào gọi là sắc bị dục làm nhiễu não, biến hoại? Đó là dục nhiễu não, khiến sắc sinh biến hoại.     

 Có thuyết nói: biến ngại cho nên gọi là sắc.

 Nói vậy thì,  cực vi101 không phải là sắc, vì chúng không biến ngại?

 Vấn nạn nầy không đúng; bởi lẽ, không có cực vi nào tồn tại một cách độc lập. Chúng chỉ tồn tại trong một tổ hợp. Như vậy là, có nghĩa biến ngại.

 Các pháp quá khứ, vị lai không gọi là sắc?

 Các pháp nầy cũng gọi là sắc. Vì, đã từng biến ngại và sẽ biến ngại; đồng thời có cùng tính chất với các pháp (kia) trong hiện tại; Như cũi chẳng hạn.

 Các sắc vô biểu, lẽ ra, không gọi là sắc?

 Có giải thích rằng: Do biểu sắc biến ngại; vô biểu phụ thuộc vào hữu biểu nên cũng được gọi là sắc. Ví như cây lay động, ảnh cũng lay động theo.

 Giải thích nầy không đúng. Bởi lẽ, vô biểu không hề biến ngại102. Lại nữa, nếu nói như trên thì, khi biểu sắc diệt, lẽ ra, vô biểu cũng phải diệt. Như cây không còn, ảnh cũng theo đó mà mất.

    Có giải thích rằng, vì đại chủng sở y biến ngại nên  vô biểu nghiệp cũng được gọi là sắc.

    Nếu nói, do đại chủng sở y biến ngại mà gọi (năng y) là sắc thì, năm thức nhãn, nhĩ, v. v. . . , lẽ ra cũng nên gọi là sắc?

    Vấn nạn nầy không tương thích. Vì, khi vô biểu nương nơi đại chủng để chuyển biến, như ảnh nương  cây, quang nương bảo châu, không giống như khi năm thức nương vào năm căn; vì ở đây, năm căn chỉ là trợ sinh nhơn103 của thức mà thôi. Vả lại, câu “bóng nương cây, quang nương bảo châu” không phù hợp với nghĩa của Tỳ-bà-sa. Tỳ-bà- sa nói: các cực vi hiển sắc như bóng, v. v. . .  mỗi mỗi đều tự nương vào đại chủng của nó. Cho nên, dù đồng ý rằng, bóng, ánh “nương vào” cây và bảo châu nhưng vô biểu sắc không có sự “nương vào” giống như vậy. Bà sa chấp nhận rằng, đại chủng sở y mất nhưng vô biểu sắc không theo đó mà mất.

    Do vậy, những điều được nói trên chưa phải là giải thích thỏa đáng.

   

Lại có một giải thích khác: năm sở y của các thức nhãn, nhĩ v.v. . . là bất định; hoặc bị biến ngại như các căn nhãn v.v. . .  ; hoặc không bị biến ngại như vô gián ý1104 Sở y của vô biểu không giống như vậy. Do đó, những vấn nạn trước là không tương thích.

Biến ngại gọi là sắc là hoàn toàn chánh lý.

Như vậy là đã nói xong phần sắc uẩn. !

Thượng tọa Thích Phước Viên


 

CHÚ THÍCH:


56  Ht. Như nhũ như tân, ¦如 乳 如 薪  . Cđ.Như độc đà, ¦如獨 陀 . Skt. dugdha

57 Ht. Thế lộ, 世 路 :đường đi; thời gian. Skt. adhvan: đường đi, lữ hành, khoảng cách, thời gian.

58 Ht. Ngôn, 言 : lời nói, đàm luận, sự trình bày. Skt. kathā

59 Ht. Y ,  依 : nương tựa, dựa vào. Skt. vastu: sự vật, vật chất, chất liệu, chỗ nương tựa.

60 Ht. hữu ly 有 離 . Skt. saniḥsāra. Ly tức vĩnh ly 離即 永 離 . Cđ.: vĩnh xuất danh ly 永  出  名  離

61 Ht. hữu  sự 有 事 ; cđ.: Hữu loại 有  類 . Skt.: savastuka.

62 Ht. thủ uẩn 取 蘊  ; cđ.: thủ ấm 取  陰 . Skt.: upādānaskandha.

63 Ht. vô lậu hành 無 漏 行 . Skt.: anāsravāḥ saṃskarāh.

64 Ht. hữu tránh  有 諍 ; cđ.: hữu đấu tránh 有  鬥  諍 . Skt. : saraṇa.

65 Ht. tránh tuỳ  tăng cố 諍  隨  增  故  ; cđ.: đấu tránh sở tuỳ miên cố 鬥  諍  所  隨  眠  故 . Skt. : tad anuśayitatvāt.

66 Ht. thế gian 世  間 . Skt.: loka.

67 Ht. kiến xứ 見  處  . Skt.: dṛṣṭi-ṣṭhāna.

68 Ht. hữu 有 ; cđ.: tam hữu, diệc danh tam hữu 三  有 ,  亦  名  三  有 . Skt.: bhavatīti bhavaḥ.

69 Ht. năm căn 五 根 . Skt.: pañcendriyāṇi.

70 Ht. năm cảnh 五 境 , Cđ.Năm trần 五  塵 . Skt.: pañcārthās.

71 Ht. tịnh sắc 淨  色 . Skt.: rūpāprasāda.

72 Ht. hiển sắc 顯  色 . Skt.: varṇa.

73 Ht. hình sắc 形  色 . Skt.: saṃsthāna.

74 Ht. không 空 . Skt.: nabhas, màu xanh da trời.

75 Ht. chánh 正 , hình thể bằng phẳng. Skt.: sātam samasthāna.

76 Ht. mù 霧  hơi nước từ đất bốc lên.

77 Ht. ánh mặt trời 光  . Skt.: ātapa.   

78 Ht. ánh mặt trăng …明  Skt.: āloka.

79 Ht. bóng 影 . Skt.: chāya.

80Chánh lý, tr.334a14: nạn vấn nầy không liên hệ đến quan điểm hữu bộ. Bảo sớ, tr. 478b 22: đây là nạn vấn của Kinh bộ.

81Ht. có 有 : hữu trí nghĩa phi hữu cảnh nghĩa 有 智 義 非 有 境 義 . Skt. vidyate: có nghĩa là “nó có mặt”; “nó được nhận biết”.

82 Ht. hữu chấp thọ 有 執 受 . Skt.: upātta.

83 Ht. hữu tình danh, hữu tình số 有  情  名 ,  有  情  數 . Skt.: sattvākhyaḥ.

84Ht. xúc觸 : cái năng xúc 能 觸  (spṛśya); và cái bị xúc 所觸  (spraṣtavya)

85Ht.cọng tướng 共 相 . Skt. sāmānya lakṣāṇa .Quang ký, 1B,tr. 21c2: Theo Kinh, năm thức tiếp nhận đối tượng cá biệt. Nếu duyên tổng thể thì đối tượng không còn cá biệt.

86 Ht. tự tướng 自 相 .Skt.svalakṣāṇa . Tỳ bà sa 13, tr. 65a13: tự tướng có hai: 1.sự tự tướng (dravya-svalakṣaṇa) ; 2. xứ tự tướng (āyatana-svalakṣaṇa). Nếu y sự tự tướng thời cả năm thức duyên với cộng tướng. Nếu y xứ tự tướng thời cả năm thức duyên với tự tướng.

87 Ht. vô biểu 無  表 ; Cđ.Vô giáo 無  教 . Skt. avi jñapti.

88 Ht. loạn tâm 亂  心 . Skt.: vikṣipta-citta.

89 Ht. vô tâm 無  心 . Skt. acittaka.

90 Ht. tuỳ lưu 隨  流 . Skt.: anubhandha.

91 Ht. tương tợ tương tục 相  似  相  續 . Skt. pravāha.

92 Ht. năm nhơn 五 因, Tỳ bà sa 127, gồm sanh nhơn  生  因  (janana-hetu), y nhơn 依  因 (niśraya-hetu), lập nhơn 立 因 (sthāna-hetu), trì nhơn 持 因 (upastambha-hetu), dưỡng nhơn 養 因  (upabṛṃhana-hetu).

93 Ht. sở tạo sắc 所  造  色  . Skt.: upādāya-rūpa.

94 Ht. giới 界. Skt.: dhātu.

95Ht. bốn đại chủng 四  大  種  . Skt.: bhūta.

96 Ht. gió lam 黑  風, nīlakā vātyā .

97Ht. gió xoáy 團  風 . Skt.:  maṇḍalikā  vātyā.

98 Ht. biến hoại 變  壞  . Cđ. biến ngại 變  礙  . Skt.: rūpṇa.

99 Ht. não hoại 惱  壞  ; Cđ. đối ngại 對  礙  . Skt.: bādhyate.

100 Ht. Phẩm nghĩa 品  義  ; Cđ.Nghĩa bộ kinh 義  部  經  . Bảo sớ 1B, tr. 23 c6: tác phẩm được biên tập bởi Pháp Cứu.

101 Ht. cực vi 極  微 ; Cđ:lân hư sắc 鄰  虛  色 . Skt. paramāṇurūpa.

102 Ht. vô biến ngại 無  變 礙 ; Cđ., vô biến hoại 無 變  壞 . Skt.: avikāra

103 Ht.trợ sanh duyên 助  生  緣 ;Cđ.,  sanh duyên 生  緣

104 Ht. vô gián ý  無  間  意 . Cđ., ý thức  意  識 .